Trích
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 1)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-07
Nhiều quốc gia, tổ chức phi chính phủ vẫn liên tục thúc giục chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trả tự do cho những tù nhân bị giam giữ vì bày tỏ sự khác biệt về quan điểm chính trị hoặc vì hoạt động tôn giáo, không can thiệp vào hoạt động tôn giáo,…
RFA photo/Quỳnh Như
Dân biểu Joseph Cao của tiểu bang Louisiana (đứng giữa) tại buổi họp báo trước trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ lên tiếng về tình trạng nhân quyền tại VN hôm 22/7/2010
Còn Việt Nam vẫn liên tục nhắc đi, nhắc lại rằng, không thể biến quan điểm của quốc gia nào đó về nhân quyền thành tiêu chuẩn, rồi áp đặt tiêu chuẩn đó cho Việt Nam, vì mỗi quốc gia đều có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng...
Vậy Việt Nam đang thực thi các cam kết với cộng đồng quốc tế về quyền con người như thế nào? Mời quý vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường trình bài đầu tiên trong loạt bài “Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam”…
Chính quyền bảo không
Trên bình diện quốc tế, có rất nhiều văn kiện liên quan đến nhân quyền, ràng buộc tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc.
“Theo chính quyền Việt Nam, tại Việt Nam không có tù chính trị mà chỉ có những người vi phạm luật hình sự.
Ngoài việc xác định mọi cá nhân đều có quyền được sống, được bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, được tự do về tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, được tự do ngôn luận, được tự do hội họp,… các văn kiện quốc tế về nhân quyền còn khẳng định, những hành vi xâm phạm nhân quyền là tội ác chống lại các giá trị phổ quát của nhân loại. Tùy tính chất và mức độ, những kẻ phạm tội có thể trở thành đối tượng của “Nghị quyết về các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực truy tìm, bắt giữ, dẫn độ và trừng phạt các cá nhân phạm tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người”, “Quy chế Tòa hình sự quốc tế”.
Đây là một trong những lý do khiến chính quyền Việt Nam thường xuyên phủ nhận cáo buộc của nhiều thành viên trong cộng đồng quốc tế, về việc đàn áp các cá nhân bất đồng về chính kiến và bác bỏ những lời kêu gọi hãy trả tự do cho tù chính trị. Theo chính quyền Việt Nam, tại Việt Nam không có tù chính trị mà chỉ có những người vi phạm luật hình sự.
Phạm nhân trại giam Xuân Lộc đang lao động ngoài trại. Photo courtesy of VietnamNet Có đúng là các nhà tù tại Việt Nam không hề có tù chính trị? Những người từng bị kết án, bị giam giữ vì lý do chính trị nghĩ gì trước những tuyên bố của chính quyền Việt Nam? Chúng tôi đã trao đổi với ba người từng bị giam tại trại giam Z30A, tọa lạc tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đó là các ông: Nguyễn Hữu Phu, bị bắt năm 1990, bị kết án 10 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, được trả tự do năm 2009, nay đang cư trú tại Thừa Thiên – Huế. Nguyễn Bắc Truyễn, bị bắt năm 2006, bị kết án 42 tháng tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được trả tự do vào giữa tháng 5 vừa qua, đang cư trú tại TP.HCM. Ông Nguyễn Ngọc Quang, bị bắt năm 2006, bị kết án ba năm tù về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được trả tự do năm 2009, đang cư trú tại TP.HCM để tìm câu trả lời.
Còn trong tù thì…
Mời quý vị nghe một phần cuộc trao đổi giữa chúng tôi với ông Nguyễn Hữu Phu…
Trân Văn: Việt Nam thường bảo rằng, tại Việt Nam không có tù chính trị cho nên tôi muốn hỏi anh cho rõ ràng, đó là, ở trong trại giam thì các anh được gọi là gì?
Nguyễn Hữu Phu: Chúng tôi được gọi là tù chính trị.
Trân Văn: Các anh được gọi là tù chính trị là do quản giáo gọi, hay các anh tự nhận, hoặc là những người bạn tù khác gọi các anh?
Nguyễn Hữu Phu: Thứ nhất là quản giáo gọi. Bình thường họ vẫn gọi là tù chính trị nhưng mà khi họp hành thì họ gọi chúng tôi là người vi phạm an ninh quốc gia.
“Thứ nhất là quản giáo gọi. Bình thường họ vẫn gọi là tù chính trị nhưng mà khi họp hành thì họ gọi chúng tôi là người vi phạm an ninh quốc gia.
Ông Nguyễn Hữu Phu
Trân Văn: Như vậy là các anh có tên gọi riêng?
Nguyễn Hữu Phu: Vâng!
Trân Văn: Còn tù hình sự thì họ gọi là gì?
Nguyễn Hữu Phu: Vẫn gọi là tù hình sự thôi anh.
Trân Văn: Họ có chia nhóm giữa tù hình sự với tù chính trị không?
Nguyễn Hữu Phu: Họ vẫn chia nhóm, họ tách riêng. Đời nào họ cho chúng tôi gần được tù hình sự.
Trân Văn: Như vậy là với bên ngoài, Việt Nam phủ nhận việc có tù chính trị nhưng trong trại giam thì lãnh đạo trại giam và các quản giáo vẫn gọi các anh một cách rõ ràng là tù chính trị?
Nguyễn Hữu Phu: Vâng, là tù chính trị. Có sự tách biệt. Nhà giam chúng tôi là nhà giam tách biệt và khu giam đó như một khu cách ly.
Ông Nguyễn Hữu Phu. Photo courtesy of thongtinberlin. Để phối kiểm các thông tin do ông Nguyễn Hữu Phu cung cấp, chúng tôi cũng đã nêu những câu hỏi tương tự với ông Nguyễn Bắc Truyển…
Trân Văn: Thưa anh Truyển, Việt Nam vẫn tuyên bố, tại Việt Nam không có tù chính trị, chỉ có những người vi phạm luật hình sự bị phạt tù. Thế thì tại sao anh gọi những người bạn cùng ở tù với anh là tù chính trị?
Trong nhà tù có sự phân loại và có sự khác biệt nào về cách đối xử giữa những người như các anh với tù thường phạm không? Chẳng hạn quản giáo gọi các anh là gì? Tù thường phạm gọi các anh là gì?
Nguyễn Bắc Truyển: Chúng ta cũng hay thấy là nhà nước CSVN thường tuyên bố rằng không có sự đối lập, không có tù chính trị. Mọi người đều đứng dưới lá cờ của Đảng Cộng sản. Tôi xin được nói đó là sự bịp bợm, dối trá và ngụy biện.
Họ đã quy chụp cho những người bất đồng chính kiến, hoạt động chính trị và tôn giáo là những người phạm tội hình sự. Rồi họ đem tất cả những người đó ra xử bằng bộ luật hình sự. Hành động đó làm cho bản thân họ trở thành thấp kém khi nói chuyện với cộng đồng quốc tế.
Tôi không phải là nhà lý luận để có thể đi sâu vào ngôn từ, chữ nghĩa nhưng trong trại giam thì chính những người cảnh sát trại giam vẫn gọi chúng tôi là tù chính trị, “các anh bị giam trong khu chính trị”. Tất cả các vật dụng, nồi cơm, bình đựng nước uống, vân vân,… đều được đánh dấu bằng chữ “C.T” – có nghĩa là chính trị. Như vậy hóa ra những người cảnh sát trại giam còn hiểu biết hơn các vị “đỉnh cao trí tuệ”, khi họ còn phân biệt được đâu là hoạt động chính trị, đâu là phạm tội hình sự.
“... trong trại giam thì chính những người cảnh sát trại giam vẫn gọi chúng tôi là tù chính trị, “các anh bị giam trong khu chính trị”. Tất cả các vật dụng, nồi cơm, bình đựng nước uống, vân vân,… đều được đánh dấu bằng chữ “C.T” – có nghĩa là chính trị.
Ông Nguyễn Bắc Truyển
Còn những người tù thường phạm thì họ hiểu rõ và họ luôn luôn gọi chúng tôi là tù chính trị hoặc là tù tôn giáo. Họ có một sự kính trọng đặc biệt đối với chúng tôi.
Những người cán bộ trại giam thì dè dặt hơn. Có khi họ gọi chúng tôi là những người bất đồng chính kiến, tù an ninh quốc gia.
Còn cách giam giữ thì anh thấy là hoàn toàn khác với tù thường phạm. Chúng tôi bị giam trong một khu riêng biệt. Đi lao động thì xuất trại cuối cùng nhưng khi về nhập trại thì ưu tiên số một. Có nghĩa là khi chúng tôi về thì có rất nhiều người tù thường phạm đứng chờ nhập trại nhưng chúng tôi được ưu tiên vào trước. Chúng tôi cũng không phải sinh hoạt tập thể chung với tù thường phạm vào sáng thứ hai hàng tuần, cũng không phải chào cờ. Chúng tôi không được đi mua hàng trên canteen mà có người xuống ghi đăng ký ở tại buồng giam, sau đó họ đem xuống tận buồng giam giao cho chúng tôi. Đặc biệt là khi gia đình chúng tôi đi thăm thì chúng tôi có khu vực giam riêng và luôn luôn người dẫn chúng tôi đi thăm gặp là an ninh của trại giam.
Anh em thường phạm nào mà tiếp xúc với chúng tôi, nhẹ thì bị cảnh cáo, còn nặng thì kỷ luật cùm chân hoặc là chuyển trại. Trong khi đó thì anh em tù thường phạm tiếp xúc với nhau rất là thoải mái.
Từ phải qua: ông Nguyễn Anh Hảo, cô Nguyễn Thu Trâm, ông Nguyễn Bắc Truyển và ông Nguyễn Ngọc Quang. Hình do RFA thính giả gởi. Cùng trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Quang nhận định: “Nhà nước Việt Nam tuyên bố rằng ở Việt Nam không có tù chính trị nhưng lại kết tội người ta về hành vi chính trị. Họ nói lấy được thôi, câu nói, Việt Nam hoàn toàn không có tù nhân chính trị chỉ nói với thế giới bên ngoài. Còn ngay ở bên ngoài, chính giám thị nói thẳng, các anh là tù nhân chính trị.”
Trân Văn: Ngay trong trại giam thì có sự phân định giữa tù chính trị và tù hình sự không? Sự phân định đó thể hiện như thế nào? Nó thể hiện trong cách gọi của giám thị trại giam, trong cách gọi của các tù nhân hay là nó thể hiện trong việc phân loại và việc giam giữ cũng như là cách đối xử?
Nguyễn Ngọc Quang: Nó thể hiện ở ba điểm. Thứ nhất là cách gọi của cán bộ trại giam. Cán bộ trại giam gọi chúng tôi là tù chính trị và gọi những người kia là tù thường phạm.
“Thứ nhất là cách gọi của cán bộ trại giam. Cán bộ trại giam gọi chúng tôi là tù chính trị và gọi những người kia là tù thường phạm.
Ông Nguyễn Ngọc QuangThứ hai, phân biệt bằng đối xử bởi vì chúng tôi bị giam chung chứ không giam riêng với những người tù thường phạm. Chúng tôi không được quyền học, không được quyền có giấy bút, không được quyền gọi điện thoại ra ngoài mỗi tháng một lần như nội quy thi hành án đã quy định. Chúng tôi không được tiếp xúc với người khác, trừ trường hợp lao động. Lao động thì chúng tôi phải lao động tập trung. Có nghĩa là tù chính trị lao động riêng với nhóm tù chính trị và không được gần gũi với những người tù thường phạm.
Người tù thường phạm nào gần gũi với chúng tôi thì chắc chắn sẽ bị đi cùm.
Điểm thứ ba để phân định là mỗi lần viết kiểm điểm, chúng tôi buộc phải nhận đã có hành vi chống nhà nước này. Hành vi chống nhà nước chính là hành vi chính trị.
Đến đây thì cuộc trò chuyện với những cá nhân từng bị tù do bày tỏ sự bất đồng về quan điểm chính trị, lên tiếng kêu gọi và vận động thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam theo chiều hướng tôn trọng tự do, dân chủ, chuyển sang một hướng khác. Đó là khi phải đối diện với tình trạng mất tự do và môi trường khắc nghiệt của nhà tù, tù chính trị nghĩ gì và ứng xử ra sao? Mời quý vị đón nghe bài kế tiếp.
***
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 2)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-08
Tuy Việt Nam luôn phủ nhận tại Việt Nam có tù chính trị, song trong lần phát thanh trước, quý vị đã nghe các ông: Nguyễn Hữu Phu, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Quang – những người từng bị kết án, bị giam giữ vì lý do chính trị, kể về sự hiện diện của tù chính trị trong nhà tù cũng như sự phân loại, sự phân biệt về cách đối xử giữa tù chính trị và tù hình sự tại trại Z30A ở Xuân Lộc, Đồng Nai.
Photo courtesy of VietNamNet
Thượng tướng Lê Thế Tiệm tại cuộc họp báo hướng dẫn tuyên truyền về đặc xá năm 2010, công bố quyết định 697/2010/QĐ-CTN của Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đặc xá năm 2010.
Khi phải đối diện với tình trạng mất tự do và môi trường khắc nghiệt của nhà tù, tù chính trị nghĩ gì và ứng xử ra sao? Mời quý vị nghe Trân Văn tường trình tiếp.
Tội nào cũng có thể tha…
Cách nay vài tuần, hệ thống truyền thông Việt Nam loan báo, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Việt Nam sẽ thực hiện một đợt đặc xá, được cho là lớn chưa từng có.
“Điểm đáng chú ý là trong đợt đặc xá được xem là lớn chưa từng có này, Việt Nam khẳng định, sẽ không đặc xá cho những người đã bị kết án về những tội nằm trong nhóm tội được gọi là “xâm phạm an ninh quốc gia” – cách Việt Nam thường dùng để gọi tù chính trị tại Việt Nam.
Theo đó, sẽ có khoảng từ 25.000 đến 30.000 phạm nhân được trả tự do trước khi mãn hạn tù, vào đầu tháng 9 sắp tới. Điểm đáng chú ý là trong đợt đặc xá được xem là lớn chưa từng có này, Việt Nam khẳng định, sẽ không đặc xá cho những người đã bị kết án về những tội nằm trong nhóm tội được gọi là “xâm phạm an ninh quốc gia” – cách Việt Nam thường dùng để gọi tù chính trị tại Việt Nam.
Vì sao Việt Nam có thể khoan hồng cho tất cả những viên chức đã từng tham nhũng, cố ý làm trái hoặc thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng cho quốc gia, những cá nhân đã từng giết người, cướp giật, cưỡng hiếp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, kể cả buôn bán ma túy, buôn người… nhưng lại bất khoan dung với những người bày tỏ sự bất đồng về quan điểm, vận động tự do, dân chủ hóa Việt Nam?
Chúng tôi tiếp tục cuộc trò chuyện với một số cựu tù chính trị nhằm tìm câu trả lời cho thắc mắc này. Câu trả lời chung về nguyên nhân chính dẫn tới thái độ bất khoan dung của chính quyền Việt Nam là vì tù chính trị không chịu cải tạo theo ý chính quyền Việt Nam mong muốn.
Trừ “tội” kêu đòi tự do, dân chủ
Ông Nguyễn Hữu Phu. Photo courtesy of thongtinberlin. Người cựu tù chính trị đầu tiên mà chúng tôi đề nghị giải thích chi tiết hơn về vấn đề này là ông Nguyễn Hữu Phu, bị bắt năm 1990, bị kết án 10 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, được trả tự do năm 2009, nay đang cư trú tại Thừa Thiên – Huế.
Trân Văn: Thưa anh, có một vấn đề, đó là thông thường, khi phải vào tù thì người ta mong được trở về nhà, và để được trở về nhà thì người ta thường cố gắng tuân thủ các yêu cầu của trại giam, cố gắng chứng tỏ điều mà các trại giam cũng như chính quyền Việt Nam thường đề cập đó là cải tạo tốt. Thế thì tại sao tù chính trị lại không chịu cải tạo?
Nguyễn Hữu Phu: Xin trả lời với anh như thế này. Thứ nhất, những con người nào nhận thấy họ sai trái, họ mới được cải tạo. Còn riêng tù chính trị thì đa số họ vì lý tưởng sống cao cả cho nên buộc họ cải tạo thì họ không bao giờ chấp nhận để được giảm án.
Cải tạo là thế nào? Chúng tôi không đồng ý vì thứ nhất, việc làm của chúng tôi không sai, bây giờ làm sao chúng tôi phải chấp nhận sai và đáp ứng những yêu cầu của nhà trại để về được.
Trân Văn: Thưa anh, số tù chính trị được giảm án có nhiều không? Số tù chính trị mà được đặc xá trong các đợt đặc xá hàng năm có nhiều không?
Nguyễn Hữu Phu: Từ 2007 cho đến nay thì tù chính trị không được xét đặc xá.
Trân Văn: Không được xét đặc xá là vì họ không chịu cải tạo?
Nguyễn Hữu Phu: Vâng, không chịu cải tạo!
Ông Phu khẳng định, vì lý tưởng, đa số tù chính trị không nhận sai, không xin khoan hồng, nên vì vậy không được đặc xá. Điều đó có đúng không? Chúng tôi tiếp tục nêu lại vấn đề này với ông Nguyễn Bắc Truyển, bị bắt năm 2006, bị kết án 42 tháng tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được trả tự do vào giữa tháng 5 vừa qua, đang cư trú tại TP.HCM, để kiểm chứng.
“Từ 2007 cho đến nay thì tù chính trị không được xét đặc xá.
Ông Nguyễn Hữu Phu
Trân Văn: Thưa anh Truyển, vì sao gần như không có tù chính trị nào được đặc xá hoặc ân xá, có phải vì họ không chịu cải tạo, không xin khoan hồng không?
Có một thực tế là ai ở tù thì cũng mong được trả tự do, tại sao tù chính trị không chọn lối hành xử như mọi người tù bình thường khác?
Nguyễn Bắc Truyển: Để được giảm án tha tù hay ân xá thì người tù phải ký vào một bản gọi là cam kết nhận tội, ăn năn hối cải nhưng đối với tù chính trị thì không bao giờ họ chịu làm việc này hết. Lý tưởng của họ còn mạnh hơn sự sống, do đó, họ có thể chết cho lý tưởng của mình.
Khi dấn thân vào con đường đấu tranh thì tù chính trị chấp nhận sự tù đày rồi. Không cần phải bàn cãi về chuyện đó. Và khi chấp nhận tù đày thì có nghĩa là chấp nhận cái chết vì vào trong tù, khả năng chết và sống là 50/50. Việc này thì anh em ở trỏng chấp nhận nhẹ nhàng thanh thản thôi.
Do đó, những ai muốn dấn thân vào con đường tranh đấu cho dân chủ, tự do ở thời điểm hiện tại thì phải tự hỏi có chấp nhận sự gian khổ trong nhà tù hay không.
Tù chính trị không bao giờ ký vào bản nhận tội để được ân xá hay giảm án gì đó.
Từ trái qua: ông Trần Văn Huy, ông Nguyễn Ngọc Quang, ông Nguyễn Anh Hảo, Cô Nguyễn Thu Trâm và ông Nguyễn Bắc Truyển hôm 18/07/2010. Một cựu tù chính trị khác là ông Nguyễn Ngọc Quang, bị bắt năm 2006, bị kết án ba năm tù về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được trả tự do năm 2009, đang cư trú tại TP.HCM, cũng lý giải y hệt như ông Nguyễn Hữu Phu và ông Nguyễn Bắc Truyển về việc tại sao tù chính trị không được đặc xá: “Ở trại Xuân Lộc, mỗi quý ba tháng đều phải viết bản kiểm điểm dựa trên bốn tiêu chuẩn thi đua chấp hành án. Tiêu chuẩn đầu tiên là phải thành khẩn nhận tội. Muốn được giảm án là phải nhận tội, không nhận tội là không bao giờ được giảm án.”
Đó cũng là số phận của những người bị kết án, bị giam giữ vì đòi hỏi tự do tôn giáo và trong tù, được gọi là tù tôn giáo. Ông Nguyễn Bắc Truyển kể thêm về tù tôn giáo và số lượng tù chính trị, tù tôn giáo đang bị giam giữ tại trại Z30A.
Trân Văn: Thưa anh Truyển, hồi nãy, anh có đề cập đến tù tôn giáo. Ở Z30A có sự phân biệt giữa tù chính trị và tù tôn giáo (?) và tù tôn giáo là gì?
Nguyễn Bắc Truyển: Khi vào phân trại số 1, tôi có gặp sáu, bảy anh em được gọi là tù tôn giáo của Phật giáo Hòa Hảo. Sáu, bảy anh em đó thường bị kết tội về những tội như là: “Gây rối trật tự công cộng” hay “chống người thi hành công vụ”… Do đó khi vào trại giam thì những anh em đó không được giam chung với tù chính trị mà bị giam chung với tù hình sự.
Nhưng như tôi đã nói với anh, những người đó cũng là những tù nhân lương tâm. Họ ở tù lâu thì cũng ảnh hưởng đến anh em tù hình sự vì nhân cách của họ, rất là thương yêu, rất là tương trợ nhau, rất là trung thực... Vì vậy, lâu ngày, anh em tù hình sự cũng bị ảnh hưởng thôi.
Khi tôi qua phân trại số 2, tù chính trị bị giam riêng thì tù tôn giáo khoảng ba người cũng vẫn bị giam chung với tù hình sự và đó là sự phân biệt của những người quản lý nhà tù.
“Tiêu chuẩn đầu tiên là phải thành khẩn nhận tội. Muốn được giảm án là phải nhận tội, không nhận tội là không bao giờ được giảm án.
Ông Nguyễn Ngọc Quang
Trân Văn: Thưa anh Truyển, nếu tính chung các phân trại thì Z30A còn khoảng bao nhiêu tù chính trị?
Nguyễn Bắc Truyển: Khi tôi về cách nay hai tháng thì phân trại số 2 còn khoảng 40 người tù chính trị được giam thành một khu riêng. Ba người tù tôn giáo được giam chung với các anh em tù hình sự.
Ở phân trại số 1 còn đâu khoảng mười người tù tôn giáo và chính trị. Phân trại số 4 chủ yếu là nữ, có giam mấy chị là tù tôn giáo và vài người tù chính trị. Phân trại số 5 thì tôi không được biết.
Đó là những người tôi được biết trong trại giam Xuân Lộc.
Cuộc trò chuyện với những cựu tù chính trị làm bật ra một số thông tin đáng chú ý khác. Đó là vì sao tù hình sự lại thương yêu và kính trọng tù chính trị và tù tôn giáo? Vì sao chính quyền Việt Nam phải cách ly tù hình sự với tù chính trị? Những thắc mắc này sẽ được các cựu tù chính trị giải đáp trong bài kế tiếp. Mời quý vị đón nghe.
***
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 3)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-09
Một số cựu tù chính trị vừa được trả tự do hồi cuối năm ngoái, hoặc mới được trả tự do cách nay vài tháng, cùng khẳng định rằng, trong tù, tù hình sự rất thương yêu, kính trọng tù chính trị và tù tôn giáo.
Photo courtesy of Vietnamville.ca
Anh Nguyễn Ngọc Quang cùng Thu Trâm Đứng bên giường bệnh khi MS Nguyễn Hồng Quang thăm bệnh Chị Bích Khương, ảnh chụp tháng 6 năm 2010.
Đồng thời, các cựu tù chính trị cũng cho biết chính quyền Việt Nam đang áp dụng chính sách cách ly tù chính trị với tù hình sự.
Những chi tiết này khác biệt hoàn toàn với những gì người ta từng được biết về nhà tù và tù chính trị tại Việt Nam. Vì sao có sự khác biệt này, mời quý vị theo dõi tiếp bài thứ ba trong loạt bài "Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam"...
Vì sao phải cách ly tù chính trị và tù hình sự?Trong các cuộc trò chuyện với một số cựu tù chính trị, cả ba ông: Nguyễn Hữu Phu, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Quang cùng đề cập đến một số chi tiết rất đáng chú ý về quan hệ giữa tù chính trị, tù tôn giáo với tù hình sự trong nhà tù. Theo đó, tù hình sự rất thương yêu, kính trọng tù chính trị và tù tôn giáo. Liệu sự thương yêu, kính trọng này có phải là lý do khiến trại giam phải cách ly hoàn toàn tù chính trị với tù hình sự? Chúng tôi nhờ ông – từng bị giam ba năm rưỡi vì tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” - giải đáp…
“Người tù thường phạm bị ảnh hưởng bởi người tù chính trị khi mà ở chung. Họ sẽ bị thuyết phục bởi việc làm và nhân cách, tinh thần tương trợ cũng như sự kiên cường, không khuất phục bạo quyền.
Ô. Nguyễn Bắc Truyển
Trân Văn: Thưa anh Truyển, tại sao cũng là tù nhưng có sự cách ly giữa tù chính trị với tù thường phạm?
Nguyễn Bắc Truyển: Vấn đề này, tôi có thể trình bày như vầy. Người tù hình sự thì luôn luôn mong muốn được giảm án, tha tù để sớm trở về với gia đình của họ. Do đó, họ luôn luôn e ngại tiếp xúc với chúng tôi, cũng như là trại giam luôn luôn tìm cách cách ly chúng tôi với tù thường phạm.
Tôi có một trải nghiệm khi ở chung với tù thường phạm từ lúc bị tạm giam cho tới ngày 18/4/2008, trước khi chúng tôi bị đưa vào biệt giam… Tôi thấy rằng người tù thường phạm bị ảnh hưởng bởi người tù chính trị khi mà ở chung. Họ sẽ bị thuyết phục bởi việc làm và nhân cách, tinh thần tương trợ cũng như sự kiên cường, không khuất phục bạo quyền, cũng như là không bao giờ xin khoan hồng hay nhận tội, chấp nhận hậu quả mà anh em tù thường phạm hay gọi là “chung đủ” của người tù chính trị.
Ông Nguyễn Bắc Truyển tại trại giam Xuân Lộc trước đây. Photo courtesy of ddcvn.info Tù thường phạm thường nói việc làm của người tù chính trị là vì mọi người, vì đất nước.
Những ai mà xúc phạm đến tù chính trị thường bị những người đại ca trong buồng nhắc nhở là không được làm như thế. Nếu không sẽ bị chính những người đại ca đó xử.
Bản thân tôi nghĩ rằng, những người tù thường phạm cũng là nạn nhân của chế độ thôi, họ cần được thương yêu, cảm hóa chứ không phải là phân biệt, khinh rẻ!
Cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang - từng bị giam ba năm vì tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” - tiết lộ: Trước đây, họ tưởng rằng có thể dùng anh em giang hồ để khủng bố tù nhân chính trị cho nên người ta nhốt chung nhưng không ngờ rằng, khí phách của những người tù chính trị đã thu phục được tù thường phạm và từ đó có những cuộc nổi loạn.
Tù chính trị được tù thường phạm rất là yêu thương. Cho nên sau này, người ta tách rời tù chính trị khỏi tù thường phạm. Tôi nghe nói khoảng 1984-1985 là bắt đầu tách riêng rồi. Tách riêng rất lâu rồi vì họ biết được tù chính trị có sức thuyết phục rất mạnh đối với tù thường phạm. Vì vậy cho nên họ không nhốt chung.
Cuộc phản kháng năm 2007Như vậy là sự thương yêu, kính trọng mà tù hình sự dành cho tù chính trị có thể dẫn đến tình huống, tù chính trị tác động, chi phối tù hình sự? Việc trại giam phải cách ly hoàn toàn tù chính trị với tù hình sự chính là nhằm ngăn ngừa những cuộc phản kháng tập thể? Chúng tôi tiếp tục nêu ra các thắc mắc với ông Nguyễn Hữu Phu - từng bị giam 10 năm vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”…
Trân Văn: Thưa anh, trong thực tế, đã có một số nơi, tù hình sự được dùng như một phương tiện để cải tạo tù chính trị. Thế thì tại sao ở Z30A lại có chuyện cách ly giữa tù chính trị với tù hình sự?
Ông Nguyễn Hữu Phu. Photo courtesy of thongtinberlin.de Nguyễn Hữu Phu: Vấn đề cách ly giữa tù chính trị với tù hình sự ở Z30A là vì tù chính trị có ảnh hưởng lớn với tù hình sự.
Trân Văn: Anh có thể cho một hoặc một số dẫn chứng về ảnmh hưởng của tù chính trị với tù hình sự không?
Nguyễn Hữu Phu: Tất cả những quy chế trại giam mà nhà trại không thực hiện thì tù chính trị đều đấu tranh để bảo vệ quyền lợi sống riêng và chung trong trại giam và bảo vệ được quyền lợi của người tù hình sự cho nên người tù hình sự rất là mong muốn được người tù chính trị bảo vệ.
Trân Văn: Trên thực tế, tại trại Z30A, đã có bao giờ người tù chính trị và người tù hình sự cùng lên tiếng để đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho mình không? Nếu có thì sự kiện đó là sự kiện gì, xảy ra vào thời điểm nào?
Nguyễn Hữu Phu: Tôi không nhớ cụ thể về thời gian nhưng khoảng năm 2007, trong một buổi họp đầu tuần tại K3, tù chính trị và tù hình sự đã cùng nhau đòi hỏi nhà trại, buộc nhà trại phải thỏa mãn những yêu sách chính đáng.
Nhà trại đã trấn áp tù hình sự và tất cả tù chính trị, tù hình sự đã ruýt vào hội trường, đòi gặp giám thị trại giam là Nguyễn Trung Vinh.
Trân Văn: Thưa anh, sự kiện đó kéo dài trong bao lâu và kết quả cuối cùng là như thế nào?
Nguyễn Hữu Phu: Sự kiện đó kéo dài trong một buổi sáng. Sau đó, ông NguyễnTrung Vinh vào và có hứa hẹn nhưng mà không giải quyết, không đáp ứng hoàn toàn, hứa hẹn nhưng rồi không đáp ứng. Họ đã đưa một số tù chính trị, tù hình sự đứng dậy đấu tranh, cách ly ra các trại giam khác xa hơn.
Liệu có thể tìm thêm thông tin về cuộc phản kháng năm 2007 của tù chính trị và tù hình sự tại trại giam Z30A? Chúng tôi quay trở lại với ông Nguyễn Bắc Truyển…
Trân Văn: Anh có nói đến tác động của tù chính trị, theo như tôi được biết, năm 2007, hình như là do tác động của tù chính trị, mà tù nhân tại trại Z30A đã từng chiếm hội trường của một phân trại trong trại giam này?
Nguyễn Bắc Truyển: Thưa anh, tôi biết rõ việc này là bởi vì tôi đã được nghe những anh em tham gia cuộc đấu tranh đó kể lại khi tôi vào phân trại số 1. Chuyện đó xảy ra ở phân trại số 3. Khi tôi vào phân trại số 1 thì tôi gặp anh Trần Hoàng Giang và anh Nguyễn Văn Phương. Hai anh này có kể tôi nghe về sự kiện xảy ra ở phân trại số 3. Sau đó những người tù chính trị tham gia cuộc đấu tranh đó với anh em tù thường phạm đều bị thuyên chuyển hết. Chuyển qua các phân trại khác, đi biệt giam, hoặc như anh Trần Hoàng Giang, anh Nguyễn Văn Phương thì bị chuyển ra phân trại số 1.
“Tù chính trị được tù thường phạm rất là yêu thương. Cho nên sau này, người ta tách rời tù chính trị khỏi tù thường phạm.
Ô. Nguyễn Ngọc Quang
Trân Văn: Lý do tại sao có sự phản kháng, diễn biến của sự phản kháng và kết cục của sự phản kháng đó như thế nào?
Nguyễn Bắc Truyển: Anh em kể lại như vầy anh! Hôm đó, tù thường phạm bị chèn ép, bị áp đặt, bị cưỡng bức lao động quá mức nên phản kháng lại bằng cách lên hội trường, không đi lao động. Họ biết rằng là chắc chắn họ sẽ bị đàn áp nên họ mới kêu những người tù chính trị ở phân trại số 3 hỗ trợ cho họ.
Anh biết rồi, tù chính trị ở phân trại số 3 cũng bị giam riêng. Do đó, để ra được, anh em phải leo hàng rào. Khi đến nơi thì những người cán bộ trại giam đã bắt đầu đàn áp những người tù thường phạm rồi. Khi có mặt những người tù chính trị, những người cán bộ trại giam đã ngừng đàn áp và rút về một phía. Bên kia là anh em tù thường phạm và tù chính trị.
Anh em tù thường phạm và tù chính trị mới bao vây khu vực hội trường và đóng cửa hội trường lại. Nghĩa là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, không cho cảnh sát trại giam vào thêm nữa và cũng không để cảnh sát trại giam trong hội trường bước ra.
Hai bên nói chuyện với nhau trong hội trường thì diễn tiến rất là căng thẳng… Sau đó thì ông giám thị trại giam khi ấy là ông Nguyễn Trung Vinh phải vào và phải hứa hẹn giải quyết các yêu cầu của những anh em tù thường phạm…
Sau đó, anh biết rồi, luôn luôn “đánh nguội”, những người tù thường phạm và tù chính trị chỉ huy bị thuyên chuyển qua các trại giam khác hoặc đi xa hơn, hoặc đi về các phân trại khác thuộc trại giam Xuân Lộc… Đó là những điều mà tôi biết.
Đến lúc này, các cuộc trò chuyện với ba cựu tù chính trị cùng hướng vào một nhân chứng, người được cho là nắm giữ nhiều bí mật về tương quan giữa nhà tù với tù chính trị. Nhân chứng này đã từng được công luận nhắc đến, song câu chuyện về ông vẫn còn nhiều tình tiết khiến người ta ngỡ ngàng và đó sẽ là nội dung bài thứ tư. Mời quý vị đón theo dõi.
***
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 4)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-09
Khi trò chuyện với Trân Văn, cả ba cựu tù chính trị: Nguyễn Hữu Phu, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Quang cùng đề cập đến một người, vừa được cho là nắm giữ nhiều thông tin liên quan đến tù chính trị, vừa có cảnh ngộ hết sức đặc biệt.
Photo courtesy of Qtnlt-Blog
Ông Nguyễn Bắc Truyển đến chúc mừng Ông Trương Văn Sương vừa ra tù, ảnh chụp tháng 7 năm 2010.
Nhân vật này đã từng được công luận nhắc đến, song câu chuyện về ông vẫn còn nhiều tình tiết khiến người ta ngỡ ngàng. Mời quý vị theo dõi Trân Văn tường trình tiếp…
Chân dung một người tù
Hôm 12 tháng 7, ông Trương Văn Sương, 67 tuổi – người vẫn được biết đến như tù nhân bị chính quyền Việt Nam giam cầm lâu nhất vì lý do chính trị đã được tạm tha để về nhà chữa bệnh.
“Theo như tôi biết, đến nay, anh Cầu ở tù 34 năm ba tháng, hơn 35 năm “giải phóng”, anh Cầu ở ngoài đâu chừng 1 năm, 1 tháng gì đó thôi.
Ô. Nguyễn Ngọc Quang
Tuy nhiên, qua một số thông tin do các cựu tù chính trị tiết lộ thì ông Trương Văn Sương không phải là trường hợp cá biệt. Trong khi ông Trương Văn Sương bị giam giữ tổng cộng 33 năm và vừa được tạm tha thì tại trại giam Z30A, vẫn còn một nhân vật khác mà tính đến nay, thời gian bị cầm giữ vì lý do chính trị đã lên tới 34 năm ba tháng. Tên người tù đặc biệt này là Nguyễn Hữu Cầu. Ông được xem như một huyền thoại tại trại giam Z30A.
Vì gần như tất cả tù chính trị từng bị giam giữ tại trại giam Z30A đều có một khoảng thời gian nhất định sống bên cạnh ông Nguyễn Hữu Cầu, nên chúng tôi đã phỏng vấn một số người nhằm tìm thêm thông tin về người tù đặc biệt này. Câu chuyện bắt đầu từ ông Nguyễn Bắc Truyển…
Trân Văn: Thưa anh Truyển, theo anh, vì sao ông Nguyễn Hữu Cầu ở tù lâu như vậy?
Nguyễn Bắc Truyển: Trong thời gian tôi ở chung với anh Nguyễn Hữu Cầu tại phân trại số 2, trại giam Xuân Lộc, anh Cầu thường tâm sự với tôi về vụ án của anh thì tôi thấy rằng, vụ án của anh Cầu là một vụ án oan sai. Nguyên do là vì anh tố giác những việc làm tồi bại của các quan chức tỉnh Kiên Giang nên ảnh bị chụp cái mũ là phá hoại, rồi bị kết án tử hình, sau thì xuống chung thân và ảnh đã ở 28 năm rồi, chuẩn bị bước vào năm thứ 29.
Ông Nguyễn Hữu Cầu. Photo courtesy of Blog 1nguoiviet. Trong thời gian ở trại giam Xuân Lộc, anh Nguyễn Hữu Cầu đã làm hơn 500 lá đơn yêu cầu xem xét lại vụ án nhưng những người có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước đã che giấu và phớt lờ.
Khi tôi ra tù thì anh Cầu có nhờ tôi cùng với gia đình làm đơn gửi tới các vị có trách nhiệm nhưng cho tới nay, chúng tôi không nhận được bất kỳ sự hồi âm nào.
Thật sự là những người trong guồng máy nhà nước hiện nay đã thấy được cái sai của những người tiền nhiệm, nhưng họ không muốn gánh trách nhiệm để giải oan cho anh Cầu và anh Cầu tiếp tục phải ngồi tù vì những con người không có can đảm nhận lấy trách nhiệm minh oan cho anh.
Và kế đó là cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hữu Phu, một cựu tù chính trị khác…
Trân Văn: Anh đã từng bị giam chung với ông Nguyễn Hữu Cầu và anh có thể cho biết tại sao có rất nhiều trường hợp được giảm án nhưng ông Nguyễn Hữu Cầu thì không?
Nguyễn Hữu Phu: Tôi không được ở gần anh Cầu nhiều lắm. Tôi ở tù 10 năm nhưng ở gần anh Cầu không tới một năm vì ông Cầu thường được cách ly ở những nơi khác.
Theo sự nhận biết của riêng tôi, ông Cầu không được giảm án vì dường như là ông Cầu biết quá nhiều vấn đề sai trái của trại Z30A. Anh Cầu luôn luôn lên án và đòi hỏi nhà trại phải giải quyết những vấn đề đó cho nên nhà trại thấy vướng mắc, muốn giữ anh Cầu, không cho anh Cầu ra ngoài, sợ anh Cầu tung ra giữa công luận ở trong và ngoài nước.
Cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang cũng xác nhận: Tôi biết anh Cầu từ ngày mùng 7 tháng 10 năm 2008 cho đến ngày mùng 3 tháng 9 năm 2009.
Trân Văn: Anh có biết vì sao anh Cầu đi tù không?
Nguyễn Ngọc Quang: Anh Cầu đi tù bởi năm 1982, anh cùng với một số bạn bè phát hiện ra rất nhiều tội ác của những người có chức vụ cao trong chính quyền tỉnh Kiên Giang như là Phó Chủ tịch tỉnh, hoặc là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh,… đã buôn bán ma túy, rồi bán bãi cho tàu vượt biên, rồi hiếp dâm những người phụ nữ vượt biên mà họ bắt được với rất nhiều chứng cứ. Đặc biệt là anh Cầu có sáng tác một số bản nhạc, một số bài thơ trước cái ác của chính quyền Kiên Giang và trước sự tàn bạo của Cộng sản, ảnh không chịu được, ảnh bức xúc và ảnh thể hiện cái cảm xúc của mình qua những bài hát, những bài thơ đó và ảnh hát cho bạn bè của ảnh nghe.
“Trong thời gian ở trại giam Xuân Lộc, anh Nguyễn Hữu Cầu đã làm hơn 500 lá đơn yêu cầu xem xét lại vụ án nhưng những người có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước đã che giấu và phớt lờ.
Ô. Nguyễn Bắc Truyển
Rồi Tòa án tỉnh Kiên Giang ghép ảnh vào cái tội là “phá hoại”. Nó kết án ảnh tử hình. Về sau xử lại giảm xuống chung thân.
Việc anh Cầu ở tù cho đến hôm nay chưa ra là tại vì ảnh nắm giữ quá nhiều bằng chứng về tội ác của các quan chức cao cấp của tỉnh Kiên Giang và sau khi ảnh vô tù, ảnh biết được những bằng chứng mà các quản tù rồi những cán bộ trại giam đã gây ra ở trong tù là cho sản xuất pháo lậu, cho nấu rượu lậu, rồi những âm mưu thâm độc, giết tù chính trị bằng cách cho lây nhiễm HIV qua tù chính trị để giết người ta dần dần… Rất nhiều tội ác như thế cho nên là họ không thể thả anh Cầu ra.
Tính anh Cầu rất khí khái. Phải nói anh rất kiên cường. Chắc chắn ảnh sẽ không ngậm miệng khi ảnh được ra. Ở đây tôi xin mở ngoặc nói thêm một điều như thế này là, trước Tết năm vừa rồi, trại giam có đề nghị anh Cầu viết đơn xin đặc xá nhưng anh Cầu ảnh không viết. Nhất định anh không viết vì anh nói viết đơn xin đặc xá coi như đồng nghĩa với nhận tội.
Trân Văn: Tính cho đến ngày hôm nay thì ông Cầu đã ở tù bao nhiêu năm?
Nguyễn Ngọc Quang: Theo như tôi biết, đến nay, anh Cầu ở tù 34 năm ba tháng, được chia làm hai lần. Lần thứ nhất, sau khi miền Nam sụp đổ, anh Cầu ở tù cho đến cuối năm 1980, anh Cầu là một đại úy tâm lý chiến, cuối năm 1980, anh Cầu được thả. Đầu năm 1982, anh Cầu bị bắt lại. Hơn 35 năm “giải phóng”, anh Cầu ở ngoài đâu chừng 1 năm, 1 tháng gì đó thôi.
Truy nã cả thánh thần
“Tết năm vừa rồi, trại giam có đề nghị anh Cầu viết đơn xin đặc xá nhưng anh Cầu ảnh không viết. Nhất định anh không viết vì anh nói viết đơn xin đặc xá coi như đồng nghĩa với nhận tội.
Ô. Nguyễn Ngọc Quang
Điểm đáng chú ý là trong cuộc trò chuyện với cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang, ông Quang tiết lộ, ông có cáo trạng của hai lần xét xử ông Nguyễn Hữu Cầu về tội “Phá hoại”. Ông Quang khẳng định: Tôi sẽ đọc lại bản cáo trạng và chịu trách nhiệm khi đọc lại cho anh.
Trân Văn: Cáo trạng đó là cáo trạng trong phiên phúc thẩm hay là trong phiên sơ thẩm?
Nguyễn Ngọc Quang: Phiên sơ thẩm và phúc thẩm chỉ sai lệch nhau tí xíu thôi. Nội dung tôi sắp đọc đây là có cả trong phiên phúc thẩm và phiên sơ thẩm. Tôi đọc cho anh nghe một đoạn: “Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với tên Anan và tên Ca Diếp. Mua dầu cho Anan và Ca Diếp để vượt biên. Hiện tại thì Anan đã vượt biên và Ca Diếp đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào bắt được sẽ xử lý sau”.
Đó là một đoạn. Anan và Ca Diếp là hai đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời Đức Phật tại thế. Ấy thế mà nó cũng nói cho bằng được là ông Nguyễn Hữu Cầu cấu kết với Anan và Ca Diếp.
Ông Nguyễn Ngọc Quang đến thăm Ông Trương Văn Sương vừa ra tù, ảnh chụp tháng 7 năm 2010. Photo courtesy of Qtnlt-Blog. Tôi xin đọc tiếp một đoạn nữa:“Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài ‘Giọt nước mắt Chúa’, với nội dung ca ngợi đế quốc Mỹ và còn mơ tưởng sự quay trở lại của đế quốc Mỹ, cầu ‘bơ thừa, sữa cặn’. Bài ‘Giọt nước mắt Chúa’ có nội dung như sau: Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ nhưng cứu chúng con ra khỏi sự dữ. Amen. Nguyễn Hữu Cầu đã coi đế quốc Mỹ như là Cha trên Trời”.
Đấy! Hệ thống tư pháp của Việt Nam đã lôi bài kinh Lạy Cha của toàn thể tín đồ Kytô trên toàn thế giới ca ngợi Đức Chúa Trời gán cho anh Cầu là bài “Giọt nước mắt Chúa”.
Những thông tin về ông Nguyễn Hữu Cầu khiến người ta liên tưởng đến tuyên bố mới nhất của ông Nguyễn Văn Hưởng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam, qua bài viết “Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam!”, đăng trên Tạp chí Nhân Quyền số đầu tiên, phát hành hồi tháng 6 năm 2010. Theo đó, ông Hưởng bảo rằng, không thể mang quan điểm nhân quyền của những quốc gia khác áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Vì mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng nên không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.
Vậy bản sắc văn hóa và luật pháp của chính quyền Việt Nam về nhân quyền thể hiện trên tù chính trị và trong các trại giam còn điểm nào khác đáng phải quan tâm? Mời quý vị đón theo dõi bài kế tiếp.
***
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 5)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-10
Trong bài trước, một số cựu tù chính trị đã kể về trường hợp ông Nguyễn Hữu Cầu, 63 tuổi nhưng có đến 34 năm 3 tháng sống trong trại giam.
Photo courtesy of vietland.net/J.B Nguyen Huu Vinh
Luật sư Lê Thị Công Nhân, một nhà bất đồng chính kiến bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế. Cô ra khỏi nhà tù vào tháng 3/2010. Trong ảnh: Cô tham dự Thánh lễ vọng Phục sinh 2010 tại Thái Hà.
Theo tuyên bố của Việt Nam, dù Việt Nam sẽ đặc xá từ 25.000 đến 30.000 phạm nhân nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng những người tù chính trị như ông Cầu sẽ không được xem xét để đặc xá.
Trong khi đó, dựa trên các thông tin do một số cựu tù chính trị cung cấp, hiện có khá nhiều tù chính trị già yếu, kiệt sức vì bị giam cầm nhiều năm, thậm chí đã có không ít người chết trong tù, Trân Văn sẽ tiếp tục tường trình thêm về vấn đề này…
Bất đồng chính kiến thì 80 cũng phải “chung đủ”
Cuối tháng 12 năm ngoái, nhân dịp Cục Quản lý trại giam của Bộ Công an Việt Nam được tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, tờ Công an nhân dân công bố một thống kê, theo đó, từ năm 2000 đến nay, hệ thống trại giam trên toàn Việt Nam đã xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho khoảng 375.000 lượt phạm nhân được cho là “cải tạo tiến bộ”, và đã tổ chức thành công 13 đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho khoảng 100.000 phạm nhân được cho là “cải tạo tốt”.
“Những người như anh Đỗ Thanh Nhàn, trên 80 tuổi rồi, án 20 năm gì đó, cũng ở 13, 14 năm rồi… Còn rất là nhiều người lớn tuổi mà án nặng!
Ô. Nguyễn Bắc Truyển
Nếu không kể những trường hợp được cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt và liên tục thúc giục trả tự do thì trong số hàng trăm ngàn phạm nhân được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và đặc xá, hoàn toàn không có tù chính trị.
Gần đây, ngoài ông Trương Văn Sương được trại giam Nam Hà tạm tha để điều trị bệnh tật, trong vài tuần qua, việc có thêm một vài người tù chính trị như các ông: Nguyễn Anh Hào, Đinh Quang Hải trở về với gia đình là vì họ mãn hạn tù.
Chúng tôi tiếp tục nêu những vấn đề về nhà tù và tù chính trị với ông Nguyễn Bắc Truyển…
Trân Văn: Số người bị phạt án cao còn nhiều không anh?
Nguyễn Bắc Truyển: Nhiều lắm anh ơi! Những người này là những người lớn tuổi. Trong đó, tôi có thể kể tên là: anh Nguyễn Hữu Cầu – quá nổi tiếng, chắc là anh biết rồi ha. Anh Nguyễn Tấn Nam, năm nay 74 tuổi, đang bị tai biến, án 19 năm, ở cũng 13, 14 năm rồi. Những người như anh Đỗ Thanh Nhàn, trên 80 tuổi rồi, án 20 năm gì đó, cũng ở 13, 14 năm rồi… Còn rất là nhiều người lớn tuổi mà án nặng!
Trân Văn: Thưa anh Truyển, anh có biết số tù chính trị lớn tuổi và đã chết vì kiệt sức ở Z30A là bao nhiêu người?
Nguyễn Bắc Truyển: Tôi chưa thấy người tù chính trị nào qua đời hết nhưng tôi được nghe anh em nói lại là trong khoảng từ năm 2000 cho đến trước khi tôi về thì có khoảng từ 13 cho đến 15 người đã qua đời trong trại giam Z30A với đủ loại bịnh hết.
Một âm mưu?
Bốn nhà dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long và Lê Công Định tại TAND TPHCM hôm 20/1/2010. AFP photo Ông Nguyễn Bắc Truyển bị đưa về trại Z30A và ở tại đó khoảng hai năm. Liệu những người tù chính trị bị giam giữ lâu hơn tại Z30A có thể cung cấp nhiều thông tin hơn về vấn đề này? Chúng tôi đã hỏi thêm ông Nguyễn Hữu Phu…
Trân Văn: Ở trại giam Z30A thì có những phân trại nào giam tù chính trị?
Nguyễn Hữu Phu: Tôi ở trong đó từ năm 2000 đến năm 2009 thì có phân trại K3 và K2.
Trân Văn: Cho đến thời điểm anh được trả tự do thì còn khoảng bao nhiêu tù chính trị?
Nguyễn Hữu Phu: Còn khoảng 40 người.
Trân Văn: Thưa anh, những tù chính trị ở lâu nhất trong trại Z30A gồm có những ai?
Nguyễn Hữu Phu: Gồm có anh Nguyễn Hữu Cầu, anh Lê Văn Tính, bị kết án 20 năm và anh ở từ năm 1996. Anh Trương Công Duy, chung thân. Anh Lê Văn Thân, chung thân. Anh Nguyễn Kim Hùng, chung thân. Anh Trần Long Đức, 20 năm. Còn án 19, 18 năm tù thì cũng nhiều đấy anh ạ. Anh Bùi Đăng Thúy, 19 năm. Anh Nguyễn Tuấn Nam, 18 năm. Đa số, trở lui là 15, 16, 17 năm tù thì tôi không nhớ hết anh ạ vì số lượng đó cũng đông.
Trân Văn: Thưa anh, số tù chính trị chết trong trại giam có nhiều không?
Nguyễn Hữu Phu: Tổng số tù chính trị chết trong trại giam từ năm 2000 cho đến năm 2009 là 13 người.
Trân Văn: Anh còn nhớ được tên những người đó không?
Nguyễn Hữu Phu: Nhớ không hết, không nhớ được họ anh ạ! Còn tên thì có thể nhớ gần hết. Bác Năm Tân, Năm Căn. Ông Trước ở Đà Lạt. Anh Nguyễn Văn Dũng. Anh Lê Văn Xuân. Anh Nguyễn Sĩ Bằng. Anh Lê Văn Thân đầu bạc. Anh Ngô Anh Tuấn. Anh Trần Văn Tuấn. Anh Bình, không biết họ. Anh Thanh, không biết họ… Anh cứ ghi cho rõ là 13 người.
Trân Văn: Thưa anh Phu, những người tù chính trị đã chết thì vì sao họ chết?
Nguyễn Hữu Phu: Thứ nhất, họ ở tù quá lâu và điều kiện sống của giai đoạn trước 2005 rất thấp kém.
Trân Văn: Họ chết do kiệt sức?
“Tôi không phải trong ngành y cho nên tôi không xác định được bệnh trạng để nói rõ nhưng mà trong số người chết, có thể đặt vấn đề là có thể lây nhiễm HIV để chết ngay trong tù.
Ô. Nguyễn Hữu Phu
Nguyễn Hữu Phu: Do kiệt sức. Rồi trong đó có một điều mà chúng tôi thường lên án là từ năm 2000 cho đến 2005, nhà trại không cho người tù chính trị dùng dao cạo riêng mà buộc phải dùng chung dao cạo khi hớt tóc, cho nên có những người trẻ vẫn chết vì lây nhiễm SIDA.
Trân Văn: Nhiễm SIDA từ tù hình sự?
Nguyễn Hữu Phu: Cái này không biết từ đâu nhưng mà có những người già vào ở tù một vài năm cũng bị lây và chết. Chúng tôi đã đấu tranh liên tục từ năm 2000 cho đến năm 2005 nhà trại mới cho chúng tôi mua lưỡi lam và cạo riêng.
Tôi không phải trong ngành y cho nên tôi không xác định được bệnh trạng để nói rõ nhưng mà trong số người chết, có thể đặt vấn đề là có thể lây nhiễm HIV để chết ngay trong tù.
Trân Văn: Xin hỏi thêm một câu, đó là những người tù đã chết thì xác của họ sẽ được chôn ở trong trại hay trả lại cho thân nhân?
Nguyễn Hữu Phu: Thường là chôn ba năm mới cho thân nhân đến nhận.
Trân Văn: Như vậy là có một nghĩa trang riêng của tù nhân?
Nguyễn Hữu Phu: Dạ, có một nghĩa trang riêng của tù nhân.
Trân Văn: Thưa anh, hiện nay, những người tù lớn tuổi nhất thì là bao nhiêu?
“Tôi chỉ nói với các anh như thế này, nếu như trại K2, Z30A mà tình trạng kéo dài như thế thì chắc là những người già không chịu nổi đâu.
Ô. Nguyễn Hữu Phu
Nguyễn Hữu Phu: Đa số là gần 80, có người đã 78, 79 tuổi rồi anh.
Trân Văn: Người trẻ nhất khoảng bao nhiêu?
Nguyễn Hữu Phu: Thời gian tôi còn ở trong đó, trẻ nhất là Trương Quốc Huy, 26, 28 tuổi.
Trước khi kết thúc cuộc trò chuyện, ông Nguyễn Hữu Phu nhấn mạnh: "Tôi chỉ nói với các anh như thế này, nếu như trại K2, Z30A mà tình trạng kéo dài như thế thì chắc là những người già không chịu nổi đâu".
Tin mới nhất từ các cựu tù chính trị cho biết, ông Trần Văn Thiêng, một người tù chính trị 75 tuổi, bị kết án 19 năm tù, sau khi lâm trọng bệnh, sức khỏe suy kiệt, hồi giữa tháng 6 đã được gia đình bảo lãnh đưa ra chữa chạy ở bên ngoài dưới sự giám sát của trại giam, và cách nay hai tuần vừa bị đưa trở lại Z30A, bất kể điều đó đe dọa tính mạng của ông. Vào lúc này, gia đình ông đang cầu cứu khắp nơi.
Những người tù chính trị cần gì và mọi người có thể làm gì cho họ? Đó sẽ là nội dung bài cuối cùng của loạt bài này. Mời quý vị đón xem.
***
Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 6)
Trân Văn, thông tín viên RFA
2010-08-12
Qua các cuộc trò chuyện với Trân Văn, một số cựu tù chính trị đã cung cấp khá nhiều thông tin về nhà tù và tù chính trị.
Photo courtesy of tiengnoitudodanchu.org
Tù chính trị Nguyễn Anh Hào vừa ra khỏi nhà tù tháng 7/2010
Thế còn ở góc độ cá nhân, người tù chính trị cần gì và người ta có thể làm gì cho họ? Trân Văn có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Bắc Truyển…
Giá của sự dấn thân
Trân Văn: Thưa anh Truyển, tù chính trị chấp nhận mất tự do cá nhân vì lý tưởng của họ nhưng họ có nghĩ đến gia đình của họ không?
Hình như anh có quan hệ khá rộng đối với gia đình của nhiều tù chính trị. Theo anh biết thì họ nghĩ gì về chồng, về cha, về con, về anh, về em của mình?
Ai cũng biết, thiếu vắng người thân là một sự thiệt thòi nhưng sự thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần đối với thân nhân của tù chính trị thì cụ thể ra sao?
Nguyễn Bắc Truyển: "Tôi nghĩ bất cứ người tù chính trị nào cũng thương nhớ gia đình hết. Trong đó, cái thứ nhất là tình cảm chứ không phải là vật chất.
Xin đừng nghĩ rằng những người hoạt động chính trị khô khan. Họ rất là tình cảm, rất là lãng mạn. Nếu không có sự lãng mạn đó thì họ không thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt được.
Họ đấu tranh là để mang lại tự do cho dân tộc. Gia đình và người thân của họ cũng có phần trong đó. Tôi đã chứng kiến nhiều lần cảnh người tù chính trị nhận tin người thân của mình qua đời. Nỗi đau có thể nói là nhân lên gấp trăm, gấp ngàn lần. Tôi cũng từng đau đớn khi nghe mẹ của nhà tôi mất. Tôi nghĩ rằng tôi cũng có phần trách nhiệm trong đó, khi mà mẹ tôi sống trong nỗi lo lắng, buồn đau khi có một người con rể phải chịu tù đày.
“Theo tôi thì chúng ta nên có những chương trình thiết thực cho người tù chính trị như là đề nghị với nhà nước CSVN cho các tổ chức nhân quyền, tổ chức y tế vào thăm và khám bịnh theo định kỳ.
Ô. Nguyễn Bắc Truyển
Có những trường hợp trông đợi gặp vợ của mình trong nhiều năm, để rồi có một ngày, con thông báo rằng vợ đã qua đời rồi…
Khi tôi trở ra ngoài xã hội, tôi rất quan tâm đến những gia đình có người đang bị ở tù, nhứt là tù chính trị. Tôi muốn tìm tới họ, động viên họ, nói với họ rằng hãy vượt qua nỗi sợ hãi, hãy đi thăm những người thân của mình trong tù. Bởi vì đó là cách bảo vệ cho người tù, giúp họ chống lại sự ngược đãi và đàn áp của trại giam, cũng như là động viên tinh thần họ.
Gia đình của những người tù nên liên kết lại với nhau để giúp đỡ nhau, để bảo vệ, động viên nhau.
Có khi người tù chính trị cũng là trụ cột của gia đình nên khi họ bị bắt, bị kết án, gia đình của họ có khả năng bị ly tán, bị tan vỡ. Nhiều gia đình sống trong cảnh nghèo khổ mà tôi cũng đã có lần tiếp cận. Rồi người thân của họ phải chịu nhiều thiệt thòi. Trong một số trường hợp còn bị địa phương ngược đãi, gây khó khăn trong cuộc sống."
Trân Văn: Theo anh, người tù chính trị cần gì nhất và điều thiết thực nhất mà người ta có thể làm được cho tù chính trị là gì?
Nguyễn Bắc Truyển: "Có thể nói rằng người tù chính trị cần sự quan tâm. Họ cũng có một nỗi lo rằng họ sẽ chết ở trong đó mà mọi người không biết họ là ai và quên lãng họ.
Không đơn thuần là vấn đề vật chất đâu vì vật chất là điều mà anh em có thể tự bươn chải, gói ghém, san sẻ với nhau được nhưng sự không quan tâm mới làm cho họ buồn.
Từ trái qua: Nhà dân chủ Nguyễn Tiến Trung, Blogger Điếu cày, Blogger Người Buôn Gió. Photo courtesy of nguoibuongio.multiply.com Tuy nhiên họ cũng có thể vượt qua những trở ngại đó để vững vàng, kiên định trên con đường đấu tranh.
Theo tôi thì chúng ta nên có những chương trình thiết thực cho người tù chính trị như là đề nghị với nhà nước CSVN cho các tổ chức nhân quyền, tổ chức y tế vào thăm và khám bịnh theo định kỳ. Rồi liên hệ với các gia đình của tù chính trị để giúp đỡ gia đình có tài chánh đi thăm tù chính trị thường xuyên nếu mà họ quá nghèo. Khi họ mãn hạn tù, trở ra ngoài xã hội thì nên giúp đỡ họ có công việc, phương tiện để sinh sống, cũng như chăm sóc sức khỏe cho họ.
Đó là những gì tôi nghĩ rằng có thể thiết thực đối với người tù chính trị."
Ngay vào lúc này, một trong những điều khiến ông Nguyễn Bắc Truyển bận tâm nhiều nhất, đó là chưa làm tròn sự ủy thác của những người bạn tù muốn chu toàn lời hứa với những bạn tù khác đã chết trong tù. Ông Truyển kể:
"Lúc tôi chuẩn bị về thì anh em có chuẩn bị cho tôi một vài cái tên của những gia đình có tù nhân chính trị chết ở trong trại giam nhưng rất tiếc là tôi không thể tìm được họ bởi vì gia đình họ đã ly tán rồi. Họ đã chuyển đi những nơi khác mà không để lại dấu vết gì hết. Tôi có hỏi hàng xóm và tôi để lại số điện thoại của tôi. Tôi dặn dò là nếu có bất kỳ thông tin gì về họ, xin vui lòng cho tôi nhưng cho đến nay, đã trên hai tháng rồi mà tôi không nhận được bất kỳ thông tin nào về những thân nhân của tù chính trị đã chết."
Hòa giải nên bắt đầu từ đâu?
Z30A ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, chỉ là một trong số hàng trăm trại giam những người tù đã có án trên khắp Việt Nam. Đó là chưa kể hệ thống trại tạm giam. Đang có bao nhiêu người vì bất đồng chính kiến, vì kêu đòi dân chủ hoặc tự do tôn giáo mà bị cầm giữ trong những trại giam này? Không ai biết chính xác!
“Có thể nói rằng người tù chính trị cần sự quan tâm. Họ cũng có một nỗi lo rằng họ sẽ chết ở trong đó mà mọi người không biết họ là ai và quên lãng họ.
Ô. Nguyễn Bắc Truyển
Đã có bao nhiêu người thiệt mạng, bao nhiêu gia đình ly tán, thậm chí tan nát? Cũng không ai biết chính xác.
Tình trạng đàn áp, ngược đãi những người bất đồng chính kiến, những người kêu đòi dân chủ hoặc tự do tôn giáo là một sự thật, tồn tại bên cạnh một sự thật khác là những lời kêu gọi hòa hợp, hòa giải của chính quyền Việt Nam. Cách đây chưa lâu, phát biểu trước Việt kiều, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiếp tục tuyên bố:
Trong gia đình, trong bạn bè có lúc cũng còn giận nhau. Bây giờ á… là lúc chúng ta phải gác lại tất cả… Hãy đoàn kết, hãy xây dựng một nước Việt Nam vững mạnh, hùng cường, sánh vai cùng bạn bè năm châu… (tiếng vỗ tay)… Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, ý chí Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và sự đoàn kết thống nhất của Việt Nam, chắc chắn là sẽ thành công xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, vững mạnh, sánh vai cùng bạn bè năm châu thế giới.
Ai sẽ và ai cần chủ động gác lại tất cả để đoàn kết, để xây dựng một Việt Nam hùng cường?
Hết trích
____________________
Hãy mở mắt, mở tai, mở tâm ra để mà "nghe" mà "thấy" hỡi các ông các bà đạo đức giả, đạo đức thật, hàng ngày vẫn ra rả bênh vực, bao che hay nói đúng ra là tự nguyện làm chó ghẻ tô son trát phấn cho bè lũ chó má cộng sản VN qua chiêu bài hòa giải hòa hợp.
Loạt bài trên, trong phần cuối, người thực hiện chương trình đã đưa cái gọi là lời "tuyên bố" của thằng chó má Việt cộng nguyễn minh triết đã nhổ ra và được lũ chó ghẻ hải ngoại (vịt kiều) liếm vào (vỗ tay) ! Thật là quá TỞM .
Còn nữa, những tên "chính khách nô" đã từng tự nguyện bưng bô cho bè lũ chó má csVN, đã từng bênh vực, bao che TỘI ÁC của tập đòan cộng sản VN, đã từng cho rằng lũ chó má csVN đã "không còn phân biệt đối xử với Quân Cán Chính VNCH vào cuối thập niên 80" .. hãy soi gương coi đã mọc nanh thành chó ghẻ chưa, đã trở thành động vật 4 chân chưa, đem bô đi đổ hay lại tiếp tục liếm vào những gì bè lũ chó má csVN đã nhổ ra ? (*)
Và những tên chính khách xôi thịt cũng nên hiểu rằng có luồn trôn lòn háng csVN thì cũng chỉ là chó ghẻ trong mắt lũ chó má này . Bài học của cái gọi là "mặt trận giải phóng Miền Nam" còn chưa đủ thấm ?.
Và người VN còn liêm sỉ, hãy "thử" tự trả lời câu hỏi kết luận của lọat bài trên, có "chấp nhận" cái gọi là "nhân quyền" của tập đòan chó má csVN "khác" Nhân Quyền đúng nghĩa của loài người trên tòan thế giới ngày nay hay không ? có nên bơm hơi tiếp máu duy trì lũ bạo tàn khát máu chó má csVN để chúng tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân Việt hay không, để chúng an nhiên đọa đày, ăn xương hút tủy dân Việt khốn cùng và BUÔN DÂN BÁN NƯỚC ??
(*) Không phải là "phân biệt đối xử " mà là trả thù . Lũ vô lọai csVN đã thi hành chính sách trả thù Quân Cán Chính VNCH theo đúng bản chất nham hiểm, tàn độc, khát máu và tận cùng chó má của chúng nó cho đến ngày hôm nay vẫn còn đang tiếp diễn .
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ trực tiếp của Quý Anh Chị tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
30082010
_________________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
Sunday, August 29, 2010
Tuesday, August 24, 2010
Chuyện nước tôi (tiếp theo)- Bản chất cốt tủy của từng thằng trong cái tập đoàn chó má csVN đều như nhau (1)
Hết cho thuê rừng, lại cho thuê biển!
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA
2010-08-20
Ngoài việc cho thuê rừng gây bao quan ngại cho môi trường và an ninh quốc phòng, nay Việt nam lại tính tới chuyện cho nước ngoài thuê cả biển.
Photo courtesy of vfej.vn
Một bãi biển ở Việt Nam
Người dân xót xa
Theo báo chí trong nước thì diện tích mặt nước ven bờ từ Quảng Ninh, vào đến Khánh Hòa, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Kiên Giang, Phú Quốc đang được chuyển nhượng cho tư nhân, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài.
Mặt khác, các bãi tắm ven biển rất đẹp ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Ninh Thuận, Nha Trang, Phú Quốc, cũng được giao cho các doanh nhân trong và ngoài nước tự khoanh vùng hoặc thuê dài hạn. Nhiều đoạn bờ biển trở thành bất khả xâm phạm không chỉ với các du khách mà còn ngay cả với người địa phương.
Qua quyết định số 123, ban hành năm 2006, chánh phủ cho phép các ngư dân được thuê diện tích mặt biển để nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên chủ trương ấy đã không được chấp hành đúng đắn, vì một số địa phương lại ưu tiên cấp phép cho các chủ đầu tư nước ngoài thuê, để tiến hành các dịch vụ như: kinh doanh khách sạn, mở nhà hàng, khu nghỉ mát, phát triển du lịch, công nghiệp, khai thác thủy hải sản.
Theo Vietnamnet online thì việc sang nhượng cho người nước ngoài sẽ khiến một số bãi biển có nguy cơ bị “băm nhỏ” và “phong tỏa”, vì người dân địa phương bị gạt ra ngoài, nhường chỗ cho doanh nhân ngoại quốc. Vẫn theo báo này thì có một số địa phương muốn khai thác gấp quyết định 123, nên cần phải làm thật nhanh, gọn, nếu sau này, có sự thay đổi nào từ trung ương, thì sẽ mất đi cơ hội “ngàn năm một thuở” ấy.
“Mình yêu nước thầm lặng, chứ phát biểu ra như dùng truyền đơn, đi biểu tình, nói này kia thì mình không được quyền. Những khắc khoải, ưu tư, sầu não thì ít khi dám biểu lộ, nói ra không có lợi gì cho mình.
Ông Chánh, ngư dân ở Nha Trang
Được biết, doanh nghiệp thuê diện tích rộng nhất, lâu năm nhất là công ty ngọc trai của Đài Loan, hoạt động tại Nha Trang, với trên 440 hecta. Các công ty nước ngoài khác của Nhật Bản, Na Uy cũng được thuê bờ biển để nuôi ngọc trai, cá lồng. Ngoài ra, ở các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, hàng ngàn hecta mặt nước biển cũng được chuyển nhượng cho công ty nước ngoài để nuôi trồng thủy sản, kinh doanh du lịch và mở mang công nghiệp đóng tàu.
Ông Chánh, một ngư dân ở Vạn Ninh, Nha Trang bày tỏ nỗi niềm xót xa của chính mình, cũng như của những cư dân quanh đó:
“Công ty nước ngoài được thuê mặt bằng vùng biển Bắc Cam Ranh, để tiến hành xây các khu nghỉ mát, resort, quyền sử dụng của họ được cấp lâu dài 50 năm, 30 năm. Không biết bằng cách nào mà một số người Trung Quốc thu góp những sổ đỏ, về quyền cho sử dụng, tôi không hiểu được, móc ngoéo trong đó thì không biết thế nào, điều đó rất đáng buồn.”
Dịp này, ông nhắc lại những khó khăn mà các ngư phủ gặp phải khi ra khơi kiếm sống:
“Khi gặp nạn nằm ngoài biển, bị mấy anh Trung Quốc bắt, đánh đập, bỏ đói, còn Việt Nam khi bắt được người ta là đối xử nhân đạo, cái đó trên báo có đăng.”
Mặc dù có thắc mắc khi thấy biển được cho nước ngoài thuê, nhưng làm người dân thì chẳng ai dám mở miệng. Ông nói tiếp:
“Mình yêu nước thầm lặng, chứ phát biểu ra như dùng truyền đơn, đi biểu tình, nói này kia thì mình không được quyền nói, chỉ nói bằng ánh mắt thôi, ngao ngán lắm. Ở Nha Trang đã có quá nhiều công ty thuê bãi biển, nên khi người dân muốn ra đó thì khó khăn lắm, phải băng qua mặt bằng do người ta sử dụng, nếu người ta không thích cho dân đi qua thì họ có quyền giăng hàng rào, người ta cấm. Những khắc khoải, ưu tư, sầu não thì ít khi dám biểu lộ, nói ra không có lợi gì cho mình.”
Lợi bất cập hại
Hoàng hôn trên biển Nha Trang. RFA photo
Mặt khác, khi được hỏi quan điểm của ông, về việc nhà nước Việt Nam, “hết cho thuê rừng, lại cho thuê biển”, từ Hà Nội, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, nguyên cố vấn của chánh phủ nhấn mạnh:
“Bãi biển rất đẹp ở miền Trung, miền Nam ở Hạ Long, nhà đầu tư nước ngoài họ độc chiếm. Ở một số nơi người dân trong nước gặp khó khăn khi đi tắm ở bãi biển của mình, họ phải đi quá xa, tình hình đó đã được phát hiện. Tôi mới vừa ở Hội An, có cuộc hội thảo về du lịch miền Trung, tôi cũng có nêu vấn đề đó lên. Khi Việt Nam muốn thu hút những nhà đầu tư nước ngoài thì cho họ một số ưu đãi, như là được xây dựng khu nghỉ dưỡng, khu resort, ngay sát bờ biển và họ độc chiếm nơi đó, không thuê phòng của họ thì không vào được.
Theo tôi, về mặt pháp luật, thì cần phải quy định rất rõ, bãi biển, bờ sông, thắng cảnh đẹp, là tài sản công cộng, phải được mở ra cho toàn dân, được tiếp cận, không được cho tư nhân thuê, không được ngăn cản người dân đến đó, để được hưởng thụ không khí nơi ấy. Tình hình đó có thật, Việt Nam đang cố gắng rút kinh nghiệm, nhưng theo tôi, điều gì xảy ra rồi thì khó có thể làm lại được.”
Theo ông thì, nhà nước Việt Nam phải có chính sách rõ ràng, minh bạch, khi ra quyết định cho doanh nhân nước ngoài được thuê biển, hầu tránh hậu quả không hay về sau :
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc!
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Trước mắt, có lẽ những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc.”
Để tìm hiểu thêm về khía cạnh luật pháp liên quan đến chuyện Việt Nam cho thuê biển, luật sư Bùi Quang Nghiêm, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, phân tích như sau:
“Cho thuê đất trồng rừng hay cho thuê bãi biển để nuôi trồng hải sản, thì đấy là việc của các địa phương và của chánh phủ, nếu như những việc ấy không ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và đem lại lợi ích kinh tế, tức là mang lại lợi lộc cho ngân sách, đem lại công ăn việc làm cho người dân thì tôi nghĩ rằng, chúng ta phải chấp nhận.
Cái đó thì tôi tin rằng các nhà chính trị họ có tính toán, tôi không thể hơn họ về chuyện đó được. Theo kinh nghiệm và hoạt động nghề nghiệp của tôi thì tôi có làm cho một vài vụ việc liên quan đến các thương nhân Đài Loan thuê mặt nước ở bờ biển để họ nuôi trồng thủy sản, tận mắt tôi chứng kiến thì phải nói rằng, họ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho chính doanh nghiệp đó, đem lại việc làm và thu nhập cho người lao động. Những gì tôi nhìn thấy thì thật sự là nó có lợi ích.”
Các cơ quan truyền thông Việt Ngữ cũng cho rằng, việc cho người nước ngoài được thuê mặt biển sẽ gây căng thẳng, mất an ninh, làm mất quyền giao thông, mất quyền khai thác của người dân trên vùng biển quê hương mình. Nếu nhà nước Việt Nam không suy xét cẩn trọng thì cả một dân tộc phải trả giá rất đắt trong hiện tại và mãi về sau.
____________
Trích:
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc!
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh "
Hết trích
Tập đòan chó má csVN đã ký "công hàm bán nước", dâng lãnh hải cho giặc tàu, ký những cái gọi là "mật ước" để dâng cúng lãnh thổ của Tổ Tiên cho giặc tàu .
Tập đòan chó má csVN thực hiện chính sách bán dân VN như những con vật qua cái quốc sách vô cùng tục tỉu, đê tiện, bẩn thỉu và vô cùng chó má của chúng nó có tên là "xuất khẩu lao động"
Còn hàng triệu những cái "quốc sách" MẤT DẠY VÔ LOẠI của bè lũ giặc cộng đã và đang đưa dân VN xuống hàng chó ngựa, xuống tận cùng ô nhục .
Một tên Việt cộng với cái tiểu sử như lê đăng doanh (*), đối với việc làm của bè lũ chó má csVN cuối cùng chỉ là "trong tương lai, tôi hy vọng ..", và cuối cùng cũng chỉ là chữ "đáng tiếc" !!!
Có lẽ Việt cộng lê đăng doanh cũng chẳng biết nói gì khác hơn, bởi lẽ những con chó má đã từng ăn xương uống máu đồng lọai, đã từng góp ngưu tâm, mã huyết để tiêu diệt giống nòi, rước giặc về thờ, đội ngoại bang lên đầu, BÁN NƯỚC BUÔN DÂN thì vi khuẩn chó má cũng đã và đang tiếp tục sinh sôi trong huyết quản của chúng nó .
Và qua sự "phân tích" của luật sư bùi quang nghiêm, chúng ta thấy gì, ngoài sự suy nghĩ của 1 tên luật sư chỉ biết có cái lợi trước mắt, cố tình mù lòa trước mưu đồ bán buôn, dâng cúng giang sơn Việt cho ngoại bang của tập đòan chó má csVN . Đúng là loại trí thức chồn lùi .
Còn nữa, những con chó ghẻ từng liếm vào những gì mà lũ chó má GIẶC cộng nhổ ra cũng có cùng bản chất đáng TỞM như nhau .
_____
(*) conbenho sưu tầm từ Google, "tiểu sử" của Việt cộng lê đăng doanh như sau:
"Lê Đăng Doanh, sinh năm 1942 ở Hà Nội, là con trai của Lê Tư Lành. Sau khi tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Kỹ thuật Leuna-Merseburg (Đức) năm 1967 ông sang Moskva năm 1984 để học sau đại học và đã được cấp bằng tại Viện hàn lâm kinh tế quốc gia Nga.
Từ năm 1968 đến năm 1978, ông làm chuyên gia của Văn phòng Chính phủ Việt Nam và là trưởng phòng ở CIEM từ năm 1987 đến năm 1988. Ông là chuyên gia cao cấp từ năm 1988-1990, từng làm cố vấn kinh tế của thư ký văn phòng cho các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh,... Ông được bổ nhiệm làm viện trưởng CIEM từ năm 1993.
Ông đã viết rất nhiều bài về kinh tế Việt Nam và về vấn đề tham nhũng.
Từ năm 2007 đến 2009, ông là thành viên của Viện nghiên cứu Phát triển IDS - Một viện nghiên cứu chính sách tư đầu tiên ở Việt Nam."
____
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
25082010
___________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA
2010-08-20
Ngoài việc cho thuê rừng gây bao quan ngại cho môi trường và an ninh quốc phòng, nay Việt nam lại tính tới chuyện cho nước ngoài thuê cả biển.
Photo courtesy of vfej.vn
Một bãi biển ở Việt Nam
Người dân xót xa
Theo báo chí trong nước thì diện tích mặt nước ven bờ từ Quảng Ninh, vào đến Khánh Hòa, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Kiên Giang, Phú Quốc đang được chuyển nhượng cho tư nhân, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài.
Mặt khác, các bãi tắm ven biển rất đẹp ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Ninh Thuận, Nha Trang, Phú Quốc, cũng được giao cho các doanh nhân trong và ngoài nước tự khoanh vùng hoặc thuê dài hạn. Nhiều đoạn bờ biển trở thành bất khả xâm phạm không chỉ với các du khách mà còn ngay cả với người địa phương.
Qua quyết định số 123, ban hành năm 2006, chánh phủ cho phép các ngư dân được thuê diện tích mặt biển để nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên chủ trương ấy đã không được chấp hành đúng đắn, vì một số địa phương lại ưu tiên cấp phép cho các chủ đầu tư nước ngoài thuê, để tiến hành các dịch vụ như: kinh doanh khách sạn, mở nhà hàng, khu nghỉ mát, phát triển du lịch, công nghiệp, khai thác thủy hải sản.
Theo Vietnamnet online thì việc sang nhượng cho người nước ngoài sẽ khiến một số bãi biển có nguy cơ bị “băm nhỏ” và “phong tỏa”, vì người dân địa phương bị gạt ra ngoài, nhường chỗ cho doanh nhân ngoại quốc. Vẫn theo báo này thì có một số địa phương muốn khai thác gấp quyết định 123, nên cần phải làm thật nhanh, gọn, nếu sau này, có sự thay đổi nào từ trung ương, thì sẽ mất đi cơ hội “ngàn năm một thuở” ấy.
“Mình yêu nước thầm lặng, chứ phát biểu ra như dùng truyền đơn, đi biểu tình, nói này kia thì mình không được quyền. Những khắc khoải, ưu tư, sầu não thì ít khi dám biểu lộ, nói ra không có lợi gì cho mình.
Ông Chánh, ngư dân ở Nha Trang
Được biết, doanh nghiệp thuê diện tích rộng nhất, lâu năm nhất là công ty ngọc trai của Đài Loan, hoạt động tại Nha Trang, với trên 440 hecta. Các công ty nước ngoài khác của Nhật Bản, Na Uy cũng được thuê bờ biển để nuôi ngọc trai, cá lồng. Ngoài ra, ở các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, hàng ngàn hecta mặt nước biển cũng được chuyển nhượng cho công ty nước ngoài để nuôi trồng thủy sản, kinh doanh du lịch và mở mang công nghiệp đóng tàu.
Ông Chánh, một ngư dân ở Vạn Ninh, Nha Trang bày tỏ nỗi niềm xót xa của chính mình, cũng như của những cư dân quanh đó:
“Công ty nước ngoài được thuê mặt bằng vùng biển Bắc Cam Ranh, để tiến hành xây các khu nghỉ mát, resort, quyền sử dụng của họ được cấp lâu dài 50 năm, 30 năm. Không biết bằng cách nào mà một số người Trung Quốc thu góp những sổ đỏ, về quyền cho sử dụng, tôi không hiểu được, móc ngoéo trong đó thì không biết thế nào, điều đó rất đáng buồn.”
Dịp này, ông nhắc lại những khó khăn mà các ngư phủ gặp phải khi ra khơi kiếm sống:
“Khi gặp nạn nằm ngoài biển, bị mấy anh Trung Quốc bắt, đánh đập, bỏ đói, còn Việt Nam khi bắt được người ta là đối xử nhân đạo, cái đó trên báo có đăng.”
Mặc dù có thắc mắc khi thấy biển được cho nước ngoài thuê, nhưng làm người dân thì chẳng ai dám mở miệng. Ông nói tiếp:
“Mình yêu nước thầm lặng, chứ phát biểu ra như dùng truyền đơn, đi biểu tình, nói này kia thì mình không được quyền nói, chỉ nói bằng ánh mắt thôi, ngao ngán lắm. Ở Nha Trang đã có quá nhiều công ty thuê bãi biển, nên khi người dân muốn ra đó thì khó khăn lắm, phải băng qua mặt bằng do người ta sử dụng, nếu người ta không thích cho dân đi qua thì họ có quyền giăng hàng rào, người ta cấm. Những khắc khoải, ưu tư, sầu não thì ít khi dám biểu lộ, nói ra không có lợi gì cho mình.”
Lợi bất cập hại
Hoàng hôn trên biển Nha Trang. RFA photo
Mặt khác, khi được hỏi quan điểm của ông, về việc nhà nước Việt Nam, “hết cho thuê rừng, lại cho thuê biển”, từ Hà Nội, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, nguyên cố vấn của chánh phủ nhấn mạnh:
“Bãi biển rất đẹp ở miền Trung, miền Nam ở Hạ Long, nhà đầu tư nước ngoài họ độc chiếm. Ở một số nơi người dân trong nước gặp khó khăn khi đi tắm ở bãi biển của mình, họ phải đi quá xa, tình hình đó đã được phát hiện. Tôi mới vừa ở Hội An, có cuộc hội thảo về du lịch miền Trung, tôi cũng có nêu vấn đề đó lên. Khi Việt Nam muốn thu hút những nhà đầu tư nước ngoài thì cho họ một số ưu đãi, như là được xây dựng khu nghỉ dưỡng, khu resort, ngay sát bờ biển và họ độc chiếm nơi đó, không thuê phòng của họ thì không vào được.
Theo tôi, về mặt pháp luật, thì cần phải quy định rất rõ, bãi biển, bờ sông, thắng cảnh đẹp, là tài sản công cộng, phải được mở ra cho toàn dân, được tiếp cận, không được cho tư nhân thuê, không được ngăn cản người dân đến đó, để được hưởng thụ không khí nơi ấy. Tình hình đó có thật, Việt Nam đang cố gắng rút kinh nghiệm, nhưng theo tôi, điều gì xảy ra rồi thì khó có thể làm lại được.”
Theo ông thì, nhà nước Việt Nam phải có chính sách rõ ràng, minh bạch, khi ra quyết định cho doanh nhân nước ngoài được thuê biển, hầu tránh hậu quả không hay về sau :
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc!
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Trước mắt, có lẽ những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc.”
Để tìm hiểu thêm về khía cạnh luật pháp liên quan đến chuyện Việt Nam cho thuê biển, luật sư Bùi Quang Nghiêm, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, phân tích như sau:
“Cho thuê đất trồng rừng hay cho thuê bãi biển để nuôi trồng hải sản, thì đấy là việc của các địa phương và của chánh phủ, nếu như những việc ấy không ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và đem lại lợi ích kinh tế, tức là mang lại lợi lộc cho ngân sách, đem lại công ăn việc làm cho người dân thì tôi nghĩ rằng, chúng ta phải chấp nhận.
Cái đó thì tôi tin rằng các nhà chính trị họ có tính toán, tôi không thể hơn họ về chuyện đó được. Theo kinh nghiệm và hoạt động nghề nghiệp của tôi thì tôi có làm cho một vài vụ việc liên quan đến các thương nhân Đài Loan thuê mặt nước ở bờ biển để họ nuôi trồng thủy sản, tận mắt tôi chứng kiến thì phải nói rằng, họ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho chính doanh nghiệp đó, đem lại việc làm và thu nhập cho người lao động. Những gì tôi nhìn thấy thì thật sự là nó có lợi ích.”
Các cơ quan truyền thông Việt Ngữ cũng cho rằng, việc cho người nước ngoài được thuê mặt biển sẽ gây căng thẳng, mất an ninh, làm mất quyền giao thông, mất quyền khai thác của người dân trên vùng biển quê hương mình. Nếu nhà nước Việt Nam không suy xét cẩn trọng thì cả một dân tộc phải trả giá rất đắt trong hiện tại và mãi về sau.
____________
Trích:
“Trong tương lai, tôi hy vọng chuyện này sẽ được đưa ra thành luật, thực hiện một cách nghiêm túc hơn. Những bãi biển đã cho thuê rồi thì không thể nào lấy lại được cho đến khi hợp đồng hết hạn, và đó là sự việc đã rồi, đáng tiếc!
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh "
Hết trích
Tập đòan chó má csVN đã ký "công hàm bán nước", dâng lãnh hải cho giặc tàu, ký những cái gọi là "mật ước" để dâng cúng lãnh thổ của Tổ Tiên cho giặc tàu .
Tập đòan chó má csVN thực hiện chính sách bán dân VN như những con vật qua cái quốc sách vô cùng tục tỉu, đê tiện, bẩn thỉu và vô cùng chó má của chúng nó có tên là "xuất khẩu lao động"
Còn hàng triệu những cái "quốc sách" MẤT DẠY VÔ LOẠI của bè lũ giặc cộng đã và đang đưa dân VN xuống hàng chó ngựa, xuống tận cùng ô nhục .
Một tên Việt cộng với cái tiểu sử như lê đăng doanh (*), đối với việc làm của bè lũ chó má csVN cuối cùng chỉ là "trong tương lai, tôi hy vọng ..", và cuối cùng cũng chỉ là chữ "đáng tiếc" !!!
Có lẽ Việt cộng lê đăng doanh cũng chẳng biết nói gì khác hơn, bởi lẽ những con chó má đã từng ăn xương uống máu đồng lọai, đã từng góp ngưu tâm, mã huyết để tiêu diệt giống nòi, rước giặc về thờ, đội ngoại bang lên đầu, BÁN NƯỚC BUÔN DÂN thì vi khuẩn chó má cũng đã và đang tiếp tục sinh sôi trong huyết quản của chúng nó .
Và qua sự "phân tích" của luật sư bùi quang nghiêm, chúng ta thấy gì, ngoài sự suy nghĩ của 1 tên luật sư chỉ biết có cái lợi trước mắt, cố tình mù lòa trước mưu đồ bán buôn, dâng cúng giang sơn Việt cho ngoại bang của tập đòan chó má csVN . Đúng là loại trí thức chồn lùi .
Còn nữa, những con chó ghẻ từng liếm vào những gì mà lũ chó má GIẶC cộng nhổ ra cũng có cùng bản chất đáng TỞM như nhau .
_____
(*) conbenho sưu tầm từ Google, "tiểu sử" của Việt cộng lê đăng doanh như sau:
"Lê Đăng Doanh, sinh năm 1942 ở Hà Nội, là con trai của Lê Tư Lành. Sau khi tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Kỹ thuật Leuna-Merseburg (Đức) năm 1967 ông sang Moskva năm 1984 để học sau đại học và đã được cấp bằng tại Viện hàn lâm kinh tế quốc gia Nga.
Từ năm 1968 đến năm 1978, ông làm chuyên gia của Văn phòng Chính phủ Việt Nam và là trưởng phòng ở CIEM từ năm 1987 đến năm 1988. Ông là chuyên gia cao cấp từ năm 1988-1990, từng làm cố vấn kinh tế của thư ký văn phòng cho các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh,... Ông được bổ nhiệm làm viện trưởng CIEM từ năm 1993.
Ông đã viết rất nhiều bài về kinh tế Việt Nam và về vấn đề tham nhũng.
Từ năm 2007 đến 2009, ông là thành viên của Viện nghiên cứu Phát triển IDS - Một viện nghiên cứu chính sách tư đầu tiên ở Việt Nam."
____
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
25082010
___________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
Friday, August 20, 2010
Ôm thù ấp giặc "danh thành": Việt gian
Ngoác mõm ngoạc mồm đờm vướng rải
Ba hoa bình loạn vải phân rùa
"Anh minh thần võ" cung tay vái
Lạy Mỹ, đội tàu đãi (đái, đại)"sĩ" đua
Chính trị thời cơ quơ, chụp, giật
Ôm thù ấp giặc đắc thân vinh
Giang Sơn mục rữa trong ô nhục
"Chính khách" vong nô "giải hợp" rình (*)
Nhục nô vạn kiếp còn tanh
Ôm thù ấp giặc "danh thành":Việt gian .
(*) viết ngắn từ nhóm chữ "hòa giải hòa hợp"
(Soi Dòng Sông Chữ Thấy Mù Tâm .. )
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian csVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
21082010
____________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
Wednesday, August 18, 2010
Chuyện nước tôi (tiếp theo)- Âu cũng là một "bài học" nữa cho những "trí thức" hải ngoại có dư thừa "Can đảm" TUỘT
Trích
Công an bắt giữ GS Phạm Minh Hoàng, Đại Học Bách Khoa TPHCM
Khoa Diễm, phóng viên RFA
2010-08-15
Tin từ Việt Nam cho biết cách đây 2 ngày ông Phạm Minh Hoàng, Giảng viên Đại Học Bách Khoa TP.HCM, vừa bị công an bắt giữ, để điều tra về các mối liên hệ bạn hữu của ông khi còn ở nước ngoài.
Hình do gia đình cung cấp.
GS Phạm Minh Hoàng (hàng đầu, giữa) và các sinh viên của Đại Học Bách Khoa TPHCM trong buổi tiệc Tất Niên ngày 28/01/2010.
Giảng viên Phạm Minh Hoàng cũng bị công an điểu tra về việc tổ chức các lớp học miễn phí về kỹ năng mềm cho sinh viên trong thời gian gần đây.
Ông Phạm Minh Hoàng từng du học bên Pháp từ năm 1973, đến cuối thập niên 1990 ông trở về Việt Nam dạy học với ước mơ góp phần đào tạo một thế hệ ý thức được bổn phận và trách nhiệm để tích cực xây dựng một đất nước tiến bộ hơn về mọi mặt.
Gần đây, ông được nhiều người biết đến sau khi ký tên và kêu gọi bạn bè cùng ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu nhà nước ngưng cho phép Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, và tham gia buổi tọa đàm về Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam tổ chức ở Sài Gòn hồi cuối tháng Chín năm ngoái.
Ngay sau khi nghe được tin ông bị bắt, Ban Việt Ngữ - Đài Á Châu Tự Do đã liên lạc với vợ ông là Bà Lê Thị Kiều Oanh đã hỏi thêm chi tiết. Sau đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa bà Kiều Oanh và biên tập viên Khoa Diễm của Đài RFA.
Lý do bị bắt?
Khoa Diễm: Dạ. Xin thưa, đây có phải là bà Kiều Oanh, vợ của Giảng viên Phạm Minh Hoàng không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh: Dạ. Dạ đúng ạ. Tôi là vợ của Giảng viên Phạm Minh Hoàng ạ.
Khoa Diễm : Dạ. Thưa bà, trước hết xin bà tóm tắt sơ chuyện gì đã xảy ra cho chồng bà là ông Phạm Minh Hoàng ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi cũng không biết lý do từ đâu nữa, nhưng mà vào ngày 11 tây tháng 8 thì có những người công an tới mời tôi và chồng tôi đi lên làm việc. Chồng tôi thì làm việc một nơi, còn tôi thì được làm việc một nơi khác.
Tôi cũng không biết từ đâu mà họ nói là có một người khai ra là chồng tôi và tôi là đảng viên của Đảng Việt Tân, nhưng mà thực sự thì tôi không phải là như vậy, mà tôi cũng biết chồng tôi không phải là như vậy.
Sau mấy ngày họ cứ mời lên mời xuống chúng tôi để hỏi cung, mà thực sự là họ chưa đưa ra được bằng chứng gì để mà buộc tội chúng tôi hết, mà tôi không biết tại sao. Tới tối ngày 13 thì họ tới đọc lệnh khám xét nhà tôi và đọc lệnh bắt khẩn cấp chồng tôi đi và việc đó rất là đau lòng.
“Sau mấy ngày mời lên mời xuống để hỏi cung, họ chưa đưa ra được bằng chứng gì để mà buộc tội chúng tôi hết, mà không biết tại sao tới tối ngày 13 thì họ tới đọc lệnh khám xét nhà tôi và đọc lệnh bắt khẩn cấp chồng tôi.
Bà Lê Thị Kiều Oanh
Khoa Diễm : Dạ. Vậy thì từ khi mà họ bắt ông Hoàng đi đến giờ thì bà đã có cơ hội nào gặp lại chồng bà chưa ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, người ta nói là đang ở trong cuộc điều tra thì người ta không có cho gặp.
Khoa Diễm : Vậy tình trạng sức khỏe hiện nay của ông nhà ra sao?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi hoàn toàn không biết gì hết, chị ạ. Tôi rất lo cho chồng tôi (khóc…). Tôi không biết chồng tôi bây giờ như thế nào nữa.
Khoa Diễm : Vậy ít nhứt bà có biết được là hiện tại ông Hoàng đang bị nhốt ở đâu không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, thực sự thì tôi không biết, nhưng mà lúc mà tôi được mời lên làm việc ở tại Nguyễn Văn Cừ thì tôi đoán là chồng tôi bị giữ ở đó thôi, chứ tôi cũng không biết rõ ạ.
Khoa Diễm : Những người bạn đã cùng chồng bà và ông Hoàng ký vào bản kiến nghị yêu cầu ngưng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, hay là chuyện Hoàng Sa - Trường Sa khi ông tham gia buổi tọa đàm về Biển Đông và Hải Đảo ở Việt Nam, thì có giúp cho bà những tin tức hoặc thông tin gì của ông hay không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Hiện bây giờ thì tôi không có ạ. Tại vì tôi vốn là một người không có giỏi về internet cho nên trước cái việc của chồng tôi, tôi không biết cách nào. Tôi chỉ biết nhờ người em ruột của chồng tôi giúp tôi làm cái việc này thôi.
Khoa Diễm : Theo bà thì tại sao lại có những lời cáo buộc là vợ chồng bà là đảng viên của Đảng Việt Tân ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Cho tới bây giờ thì tôi không biết. Tôi chỉ biết là họ bắt một người quen của chúng tôi và cậu ta khai - đó là qua lời của họ - nói là cậu ta khai ra chúng tôi, khai ra chồng tôi.
Bà Lê Thị Kiều Oanh và con gái.
Lo lắng, hoảng loạn
Khoa Diễm : Trước đây ông Hoàng có đi du học ở Pháp và đã ở lại Pháp một thời gian khá lâu, vậy bà có mong muốn là chính phủ Pháp trực tiếp can thiệp vào vấn đề này hay không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Thực sự là tôi muốn được sống yên ổn với lại chồng con tôi, mà tôi đang nghĩ là nếu bây giờ tôi nhờ chính phủ Pháp can thiệp, nếu họ trục xuất chồng tôi thì cuộc sống vợ chồng tôi cũng khó khăn lắm. Thực ra tôi thấy chồng tôi vô tội. Tôi chỉ muốn chồng tôi được về nhà yên ổn với vợ con thôi.
Khoa Diễm : Nhưng nếu như mà ông đã có những tham gia và những ý tưởng bảo vệ đất nước và những ý tưởng này có thể nghịch lại với lại chính phủ Việt Nam, thì liệu ông có thực sự được an toàn và thoải mái khi ông được thả ra và nếu như là ông được thả ra, thưa bà?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Cho tới bây giờ tôi không biết chi hết. Tôi chỉ mong làm đủ mọi cách để chồng tôi được thả ra là vì tôi khẳng định rằng chồng tôi là người vô tội. Còn cái gì nó chưa tới thì thực sự tôi cũng không dám khẳng định một điều gì hết.
Khoa Diễm : Vậy thì lúc mà đến để làm việc người ta có đưa ra những bằng chứng gì để buộc tội ông về những tội họ đã cáo buộc ông không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, tôi thì vừa mới được cơ quan điều tra người ta cấm tôi là không được nói những nội dung điều tra ra với bất cứ một người nào, thành ra tôi không biết là có được phép trả lời cụ thể cái nội dung cuộc điều tra hay không, vì người ta đã bắt tôi ký giấy là không được phép nói cái nội dung điều tra với bất cứ một ai.
“Chồng tôi bỏ tất cả cuộc sống đầy đủ hạnh phúc ở trời Tây để về đây với mong muốn là phụng sự đất nước mình, mà bây giờ không biết tại sao chồng tôi lại bị lâm vào cái chuyện như thế này.
Bà Lê Thị Kiều Oanh
Khoa Diễm : Dạ. Vậy những câu hỏi đó có làm bà khó chịu khi mà bà trả lời hoặc là họ ép bức bà trong một hướng nào đó không? Hay là bà được tự do trả lời những câu hỏi đó?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi được tự do trả lời.
Khoa Diễm : Những người hỏi cung bà có đánh đập hoặc là có những cử chỉ thô bạo xúc phạm đến bà khi họ hỏi bà những câu hỏi này hay không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Họ không có đánh đập, không có hung dữ đối với tôi, nhưng mà duy nhứt chỉ có những ngày đầu họ hỏi cung tôi là ngày 11, ngày 12 và ngày 13 thì họ rất là lịch sự, nhưng mà tôi không hiểu tại sao tới ngày 14 thì tôi được mời vào lúc 8 giờ rưỡi và tôi tới rất là đúng giờ, và tôi chờ tới hơn 9 giờ thì mới bắt đầu cuộc điều tra, và kéo dài cho tới chiều mà họ không có mời tôi một ly nước nào cũng như không hỏi xem tôi có đói không vào cái giờ cơm trưa, thì tôi lấy làm lạ như vậy thôi. Chứ còn hai ngày trước thì rõ ràng tôi thấy họ rất là lịch sự, nghĩa là vẫn mời tôi uống nước, vẫn mời tôi ăn vào giờ cơm.
Khoa Diễm : Dạ. Vậy thì trong lần làm việc cuối cùng đó họ đã giữ bà lại bao nhiêu lâu?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ. Từ hơn 9 giờ sáng cho tới 2 giờ chiều ạ.
Khoa Diễm : Hai giờ chiều! Vậy thì lúc đó bé Trâm Anh được ai săn sóc khi mà cả ông và bà đều được mời đi làm việc?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, bữa đó tôi phải gởi qua cho ông bà nội của nó ạ. Ông bà nội của nó thì lớn tuổi lắm rồi. Cả hai đều gần 90 tuổi.
Khoa Diễm : Dạ. Tình trạng hiện tại của hai mẹ con bà hiện nay ra sao?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Chắc chắn là rất khó khăn rồi, tại vì nhà tôi thì cũng đang trong giai đoạn sửa chữa. Tôi đang sửa chữa mà bây giờ thiếu vắng một người đàn ông trong khi tinh thần tôi thực sự tôi đang hoảng loạn, rồi con tôi đã vào giai đoạn nhập học, cho nên bao nhiêu việc, phải nói là tôi rối, rất là rối.
Khoa Diễm : Tôi có một câu hỏi cuối cùng xin được hỏi bà là bà có lời nhắn nào hoặc là tâm tình nào bà muốn gởi đến quý thính giả của Đài Á Châu Tự Do khi mà họ nghe về câu chuyện của chồng bà và của bà không ạ?
“Bạn nghĩ gì về trường hợp của ông Phạm Minh Hoàng? Hãy gửi ý kiến của Bạn về vietweb@rfa.org
Bà Lê Thị Kiều Oanh: Dạ. Tôi mong là bất cứ một ai quan tâm tới những người Việt Nam yêu nước như là chồng tôi, tại vì rõ ràng chổng tôi lúc hồi 17 tuổi bước lên máy bay đi du học chồng tôi đã từng tâm sự với tôi là "Anh ngồi trên máy bay anh nhìn qua khung cửa của máy bay, anh nhìn xuống đất nước Việt Nam, anh quyết định rằng là một ngày nào đó anh sẽ trở về để phục vụ quê hương của mình."
Nhưng mà bây giờ chị nghĩ xem, chồng tôi về đây bỏ tất cả cuộc sống đầy đủ hạnh phúc ở trời Tây để về đây với cái mong muốn là phụng sự đất nước mình, mà bây giờ không biết tại sao chồng tôi lại bị lâm vào cái chuyện như thế này (khóc).
Tôi chỉ mong rằng những ai cảm thấy là xót xa cho chuyện của chồng tôi xin hãy lên tiếng, xin hãy làm cái gì đó để giúp cho chồng trong việc đó thôi ạ.
Khoa Diễm : Dạ. Tôi cảm ơn chị rất nhiều ạ.
Hết trích
___________
“Bạn nghĩ gì về trường hợp của ông Phạm Minh Hoàng? Hãy gửi ý kiến của Bạn về vietweb@rfa.org"
___
Cũng chẳng có gì lạ .
Chuyện "trí thức" hải ngoại vì vô tình hay cố ý ăn phải bã của tập đòan chó má csVN nên đã tự nguyện biến thành loài chó ghẻ, tự nguyện lau chân, chùi mặt, đổ bô, vẽ phấn tô son .. , thậm chí tự nguyện liếm vào cho sạch sẽ những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra .
conbenho nghĩ âu cũng là một "bài học" nữa cho những "trí thức" hải ngoại có dư thừa "Can đảm" TUỘT .
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc.
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
19082010
___________
Làm người thì khó, làm chó thì dễ
Công an bắt giữ GS Phạm Minh Hoàng, Đại Học Bách Khoa TPHCM
Khoa Diễm, phóng viên RFA
2010-08-15
Tin từ Việt Nam cho biết cách đây 2 ngày ông Phạm Minh Hoàng, Giảng viên Đại Học Bách Khoa TP.HCM, vừa bị công an bắt giữ, để điều tra về các mối liên hệ bạn hữu của ông khi còn ở nước ngoài.
Hình do gia đình cung cấp.
GS Phạm Minh Hoàng (hàng đầu, giữa) và các sinh viên của Đại Học Bách Khoa TPHCM trong buổi tiệc Tất Niên ngày 28/01/2010.
Giảng viên Phạm Minh Hoàng cũng bị công an điểu tra về việc tổ chức các lớp học miễn phí về kỹ năng mềm cho sinh viên trong thời gian gần đây.
Ông Phạm Minh Hoàng từng du học bên Pháp từ năm 1973, đến cuối thập niên 1990 ông trở về Việt Nam dạy học với ước mơ góp phần đào tạo một thế hệ ý thức được bổn phận và trách nhiệm để tích cực xây dựng một đất nước tiến bộ hơn về mọi mặt.
Gần đây, ông được nhiều người biết đến sau khi ký tên và kêu gọi bạn bè cùng ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu nhà nước ngưng cho phép Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, và tham gia buổi tọa đàm về Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam tổ chức ở Sài Gòn hồi cuối tháng Chín năm ngoái.
Ngay sau khi nghe được tin ông bị bắt, Ban Việt Ngữ - Đài Á Châu Tự Do đã liên lạc với vợ ông là Bà Lê Thị Kiều Oanh đã hỏi thêm chi tiết. Sau đây là nội dung cuộc nói chuyện giữa bà Kiều Oanh và biên tập viên Khoa Diễm của Đài RFA.
Lý do bị bắt?
Khoa Diễm: Dạ. Xin thưa, đây có phải là bà Kiều Oanh, vợ của Giảng viên Phạm Minh Hoàng không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh: Dạ. Dạ đúng ạ. Tôi là vợ của Giảng viên Phạm Minh Hoàng ạ.
Khoa Diễm : Dạ. Thưa bà, trước hết xin bà tóm tắt sơ chuyện gì đã xảy ra cho chồng bà là ông Phạm Minh Hoàng ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi cũng không biết lý do từ đâu nữa, nhưng mà vào ngày 11 tây tháng 8 thì có những người công an tới mời tôi và chồng tôi đi lên làm việc. Chồng tôi thì làm việc một nơi, còn tôi thì được làm việc một nơi khác.
Tôi cũng không biết từ đâu mà họ nói là có một người khai ra là chồng tôi và tôi là đảng viên của Đảng Việt Tân, nhưng mà thực sự thì tôi không phải là như vậy, mà tôi cũng biết chồng tôi không phải là như vậy.
Sau mấy ngày họ cứ mời lên mời xuống chúng tôi để hỏi cung, mà thực sự là họ chưa đưa ra được bằng chứng gì để mà buộc tội chúng tôi hết, mà tôi không biết tại sao. Tới tối ngày 13 thì họ tới đọc lệnh khám xét nhà tôi và đọc lệnh bắt khẩn cấp chồng tôi đi và việc đó rất là đau lòng.
“Sau mấy ngày mời lên mời xuống để hỏi cung, họ chưa đưa ra được bằng chứng gì để mà buộc tội chúng tôi hết, mà không biết tại sao tới tối ngày 13 thì họ tới đọc lệnh khám xét nhà tôi và đọc lệnh bắt khẩn cấp chồng tôi.
Bà Lê Thị Kiều Oanh
Khoa Diễm : Dạ. Vậy thì từ khi mà họ bắt ông Hoàng đi đến giờ thì bà đã có cơ hội nào gặp lại chồng bà chưa ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, người ta nói là đang ở trong cuộc điều tra thì người ta không có cho gặp.
Khoa Diễm : Vậy tình trạng sức khỏe hiện nay của ông nhà ra sao?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi hoàn toàn không biết gì hết, chị ạ. Tôi rất lo cho chồng tôi (khóc…). Tôi không biết chồng tôi bây giờ như thế nào nữa.
Khoa Diễm : Vậy ít nhứt bà có biết được là hiện tại ông Hoàng đang bị nhốt ở đâu không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, thực sự thì tôi không biết, nhưng mà lúc mà tôi được mời lên làm việc ở tại Nguyễn Văn Cừ thì tôi đoán là chồng tôi bị giữ ở đó thôi, chứ tôi cũng không biết rõ ạ.
Khoa Diễm : Những người bạn đã cùng chồng bà và ông Hoàng ký vào bản kiến nghị yêu cầu ngưng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, hay là chuyện Hoàng Sa - Trường Sa khi ông tham gia buổi tọa đàm về Biển Đông và Hải Đảo ở Việt Nam, thì có giúp cho bà những tin tức hoặc thông tin gì của ông hay không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Hiện bây giờ thì tôi không có ạ. Tại vì tôi vốn là một người không có giỏi về internet cho nên trước cái việc của chồng tôi, tôi không biết cách nào. Tôi chỉ biết nhờ người em ruột của chồng tôi giúp tôi làm cái việc này thôi.
Khoa Diễm : Theo bà thì tại sao lại có những lời cáo buộc là vợ chồng bà là đảng viên của Đảng Việt Tân ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Cho tới bây giờ thì tôi không biết. Tôi chỉ biết là họ bắt một người quen của chúng tôi và cậu ta khai - đó là qua lời của họ - nói là cậu ta khai ra chúng tôi, khai ra chồng tôi.
Bà Lê Thị Kiều Oanh và con gái.
Lo lắng, hoảng loạn
Khoa Diễm : Trước đây ông Hoàng có đi du học ở Pháp và đã ở lại Pháp một thời gian khá lâu, vậy bà có mong muốn là chính phủ Pháp trực tiếp can thiệp vào vấn đề này hay không ạ?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Thực sự là tôi muốn được sống yên ổn với lại chồng con tôi, mà tôi đang nghĩ là nếu bây giờ tôi nhờ chính phủ Pháp can thiệp, nếu họ trục xuất chồng tôi thì cuộc sống vợ chồng tôi cũng khó khăn lắm. Thực ra tôi thấy chồng tôi vô tội. Tôi chỉ muốn chồng tôi được về nhà yên ổn với vợ con thôi.
Khoa Diễm : Nhưng nếu như mà ông đã có những tham gia và những ý tưởng bảo vệ đất nước và những ý tưởng này có thể nghịch lại với lại chính phủ Việt Nam, thì liệu ông có thực sự được an toàn và thoải mái khi ông được thả ra và nếu như là ông được thả ra, thưa bà?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Cho tới bây giờ tôi không biết chi hết. Tôi chỉ mong làm đủ mọi cách để chồng tôi được thả ra là vì tôi khẳng định rằng chồng tôi là người vô tội. Còn cái gì nó chưa tới thì thực sự tôi cũng không dám khẳng định một điều gì hết.
Khoa Diễm : Vậy thì lúc mà đến để làm việc người ta có đưa ra những bằng chứng gì để buộc tội ông về những tội họ đã cáo buộc ông không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, tôi thì vừa mới được cơ quan điều tra người ta cấm tôi là không được nói những nội dung điều tra ra với bất cứ một người nào, thành ra tôi không biết là có được phép trả lời cụ thể cái nội dung cuộc điều tra hay không, vì người ta đã bắt tôi ký giấy là không được phép nói cái nội dung điều tra với bất cứ một ai.
“Chồng tôi bỏ tất cả cuộc sống đầy đủ hạnh phúc ở trời Tây để về đây với mong muốn là phụng sự đất nước mình, mà bây giờ không biết tại sao chồng tôi lại bị lâm vào cái chuyện như thế này.
Bà Lê Thị Kiều Oanh
Khoa Diễm : Dạ. Vậy những câu hỏi đó có làm bà khó chịu khi mà bà trả lời hoặc là họ ép bức bà trong một hướng nào đó không? Hay là bà được tự do trả lời những câu hỏi đó?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Tôi được tự do trả lời.
Khoa Diễm : Những người hỏi cung bà có đánh đập hoặc là có những cử chỉ thô bạo xúc phạm đến bà khi họ hỏi bà những câu hỏi này hay không?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Họ không có đánh đập, không có hung dữ đối với tôi, nhưng mà duy nhứt chỉ có những ngày đầu họ hỏi cung tôi là ngày 11, ngày 12 và ngày 13 thì họ rất là lịch sự, nhưng mà tôi không hiểu tại sao tới ngày 14 thì tôi được mời vào lúc 8 giờ rưỡi và tôi tới rất là đúng giờ, và tôi chờ tới hơn 9 giờ thì mới bắt đầu cuộc điều tra, và kéo dài cho tới chiều mà họ không có mời tôi một ly nước nào cũng như không hỏi xem tôi có đói không vào cái giờ cơm trưa, thì tôi lấy làm lạ như vậy thôi. Chứ còn hai ngày trước thì rõ ràng tôi thấy họ rất là lịch sự, nghĩa là vẫn mời tôi uống nước, vẫn mời tôi ăn vào giờ cơm.
Khoa Diễm : Dạ. Vậy thì trong lần làm việc cuối cùng đó họ đã giữ bà lại bao nhiêu lâu?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ. Từ hơn 9 giờ sáng cho tới 2 giờ chiều ạ.
Khoa Diễm : Hai giờ chiều! Vậy thì lúc đó bé Trâm Anh được ai săn sóc khi mà cả ông và bà đều được mời đi làm việc?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Dạ, bữa đó tôi phải gởi qua cho ông bà nội của nó ạ. Ông bà nội của nó thì lớn tuổi lắm rồi. Cả hai đều gần 90 tuổi.
Khoa Diễm : Dạ. Tình trạng hiện tại của hai mẹ con bà hiện nay ra sao?
Bà Lê Thị Kiều Oanh : Chắc chắn là rất khó khăn rồi, tại vì nhà tôi thì cũng đang trong giai đoạn sửa chữa. Tôi đang sửa chữa mà bây giờ thiếu vắng một người đàn ông trong khi tinh thần tôi thực sự tôi đang hoảng loạn, rồi con tôi đã vào giai đoạn nhập học, cho nên bao nhiêu việc, phải nói là tôi rối, rất là rối.
Khoa Diễm : Tôi có một câu hỏi cuối cùng xin được hỏi bà là bà có lời nhắn nào hoặc là tâm tình nào bà muốn gởi đến quý thính giả của Đài Á Châu Tự Do khi mà họ nghe về câu chuyện của chồng bà và của bà không ạ?
“Bạn nghĩ gì về trường hợp của ông Phạm Minh Hoàng? Hãy gửi ý kiến của Bạn về vietweb@rfa.org
Bà Lê Thị Kiều Oanh: Dạ. Tôi mong là bất cứ một ai quan tâm tới những người Việt Nam yêu nước như là chồng tôi, tại vì rõ ràng chổng tôi lúc hồi 17 tuổi bước lên máy bay đi du học chồng tôi đã từng tâm sự với tôi là "Anh ngồi trên máy bay anh nhìn qua khung cửa của máy bay, anh nhìn xuống đất nước Việt Nam, anh quyết định rằng là một ngày nào đó anh sẽ trở về để phục vụ quê hương của mình."
Nhưng mà bây giờ chị nghĩ xem, chồng tôi về đây bỏ tất cả cuộc sống đầy đủ hạnh phúc ở trời Tây để về đây với cái mong muốn là phụng sự đất nước mình, mà bây giờ không biết tại sao chồng tôi lại bị lâm vào cái chuyện như thế này (khóc).
Tôi chỉ mong rằng những ai cảm thấy là xót xa cho chuyện của chồng tôi xin hãy lên tiếng, xin hãy làm cái gì đó để giúp cho chồng trong việc đó thôi ạ.
Khoa Diễm : Dạ. Tôi cảm ơn chị rất nhiều ạ.
Hết trích
___________
“Bạn nghĩ gì về trường hợp của ông Phạm Minh Hoàng? Hãy gửi ý kiến của Bạn về vietweb@rfa.org"
___
Cũng chẳng có gì lạ .
Chuyện "trí thức" hải ngoại vì vô tình hay cố ý ăn phải bã của tập đòan chó má csVN nên đã tự nguyện biến thành loài chó ghẻ, tự nguyện lau chân, chùi mặt, đổ bô, vẽ phấn tô son .. , thậm chí tự nguyện liếm vào cho sạch sẽ những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra .
conbenho nghĩ âu cũng là một "bài học" nữa cho những "trí thức" hải ngoại có dư thừa "Can đảm" TUỘT .
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc.
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
19082010
___________
Làm người thì khó, làm chó thì dễ
Tuesday, August 10, 2010
"Không có cái đầu" hay "Không có trái tim" hay "đã dính chàm" ??
Trích
Đừng Tiếp Tục Nghe Lời Nói Láo
Cố Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu nói: "Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm."
Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym nói:
"Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo.
Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo.
Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó nó láo với người khác."
Nhà văn VN Nguyễn Tuân, nổi tiếng cao ngạo trong văn đàn miền Bắc. Sau mấy chục năm nín thở qua sông, vào đến miền Nam, gặp lại bạn bè, đã phát ra một câu để đời :
"Tao còn sống đến ngày nay, là nhờ biết sợ."
Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng nói :
"Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời."
Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: "Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối."
Bí thư đảng CS Nam Tư Milovan Djilas nói :
"20 tuổi mà không theo CS, là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ CS là không có cái đầu."
Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin nói :
"CS không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó."
Cựu Tổng bí thư đảng CS Liên xô Mr. Gorbachev nói :
"Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá."
Cựu Tổng thống Nga Putin nói :
"Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim."
Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nói :
"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau."
Cố Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu nói :
" Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm."
Hết trích
_____________
Trên đây là trích dẫn những lời nói của những nhân vật "danh tiếng" trên thế giới .
conbenho nhớ đến Phim tài liệu "Việt Nam! Việt Nam" khi đọc tới lời của Tổng Thống Regan, nên "post" lại đây cho tất cả chúng ta, những người con dân Nước Việt bị MẤT NƯỚC lại một lần nữa cùng suy ngẫm .
Riêng cá nhân của conbenho cảm thấy ngậm ngùi, khi biết một người Mỹ, một người ngoại quốc, không là một người Việt Nam còn có niềm ưu tư, nỗi xót xa sâu sắc đối với tương lai ngàn năm tuổi trẻ VN trong vũng lầy nhục nhơ tăm tối với lũ giặc cộng chó má chủ trương đưa cả dân tộc VN xuống hàng chó ngựa, thử hỏi tại sao ngày giờ này vẫn còn có những bộ óc "ưu việt", thuộc hàng "lãnh đạo" trong các phong trào "đấu tranh" cho "tự do, dân chủ, nhân quyền" .. cho người dân VN lại vẫn còn tin vào những lời bọn ÁC THÚ Việt cộng nói, rằng thì là lũ chó má giặc cộng, lũ chó má trong cái đảng CƯỚP NƯỚC, DIỆT CHỦNG, PHẢN QUỐC, BÁN NƯỚC csVN "vẫn có thằng tốt" ?!
Bởi, nếu là con người còn lương tri, liêm sỉ, còn nhân tính sẽ không là "1 thằng cộng sản" với đầy bản chất chó má, ăn xương uống máu đồng loại .
Vì lẽ gì họ lại tình nguyện trở thành những con chó ghẻ, tình nguyện làm đầy tớ, làm tay sai cho bè lũ chó má csVN ? nếu không vì danh lợi, vì quyền hành, vì bạc tiền .. hay lại vì đã trót dính chàm cộng sản mà trở thành những con người "không có cái đầu" để tiếp tục tin lời loài chó má csVN, hay "không có trái tim" để tiếp tục làm theo lời loài chó má csVN ?? .
***
Phim “Việt Nam! Việt Nam!” Được Công Bố Sau 37 Năm Bị Dấu Kín
***
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam ! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.
Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam ! Việt Nam !". Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khoá kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà Nội đối xữ tử tế.
- Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hoà khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hoá hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
- Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài Gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Gia Lợi nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau : ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi người Mỹ đang chiến đấu nữa'' (xem Đoạn 7). Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.
Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không ? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên ?
Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là “Liệu chúng ta có thể vẻ một lằn ranh giữa sinh mạng con người ? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần Kết Luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.
Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lở nói sa lầy rồi ... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ CS.
Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan "... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned".
Tạm dịch : "... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau".
Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật. "
Phim Tài Liệu 14/02/2009
http://teolangthang.blogspot.com/
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
11082010
______________
CSVN Cướp Nước, Diệt Chủng, Phản Quốc, Bán Nước
Diệt Cộng Cứu Nước
Đừng Tiếp Tục Nghe Lời Nói Láo
Cố Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu nói: "Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm."
Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym nói:
"Khi thấy thằng CS nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo.
Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo.
Nếu ta không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó nó láo với người khác."
Nhà văn VN Nguyễn Tuân, nổi tiếng cao ngạo trong văn đàn miền Bắc. Sau mấy chục năm nín thở qua sông, vào đến miền Nam, gặp lại bạn bè, đã phát ra một câu để đời :
"Tao còn sống đến ngày nay, là nhờ biết sợ."
Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng nói :
"Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời."
Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: "Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối."
Bí thư đảng CS Nam Tư Milovan Djilas nói :
"20 tuổi mà không theo CS, là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ CS là không có cái đầu."
Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin nói :
"CS không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó."
Cựu Tổng bí thư đảng CS Liên xô Mr. Gorbachev nói :
"Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá."
Cựu Tổng thống Nga Putin nói :
"Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim."
Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nói :
"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau."
Cố Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu nói :
" Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm."
Hết trích
_____________
Trên đây là trích dẫn những lời nói của những nhân vật "danh tiếng" trên thế giới .
conbenho nhớ đến Phim tài liệu "Việt Nam! Việt Nam" khi đọc tới lời của Tổng Thống Regan, nên "post" lại đây cho tất cả chúng ta, những người con dân Nước Việt bị MẤT NƯỚC lại một lần nữa cùng suy ngẫm .
Riêng cá nhân của conbenho cảm thấy ngậm ngùi, khi biết một người Mỹ, một người ngoại quốc, không là một người Việt Nam còn có niềm ưu tư, nỗi xót xa sâu sắc đối với tương lai ngàn năm tuổi trẻ VN trong vũng lầy nhục nhơ tăm tối với lũ giặc cộng chó má chủ trương đưa cả dân tộc VN xuống hàng chó ngựa, thử hỏi tại sao ngày giờ này vẫn còn có những bộ óc "ưu việt", thuộc hàng "lãnh đạo" trong các phong trào "đấu tranh" cho "tự do, dân chủ, nhân quyền" .. cho người dân VN lại vẫn còn tin vào những lời bọn ÁC THÚ Việt cộng nói, rằng thì là lũ chó má giặc cộng, lũ chó má trong cái đảng CƯỚP NƯỚC, DIỆT CHỦNG, PHẢN QUỐC, BÁN NƯỚC csVN "vẫn có thằng tốt" ?!
Bởi, nếu là con người còn lương tri, liêm sỉ, còn nhân tính sẽ không là "1 thằng cộng sản" với đầy bản chất chó má, ăn xương uống máu đồng loại .
Vì lẽ gì họ lại tình nguyện trở thành những con chó ghẻ, tình nguyện làm đầy tớ, làm tay sai cho bè lũ chó má csVN ? nếu không vì danh lợi, vì quyền hành, vì bạc tiền .. hay lại vì đã trót dính chàm cộng sản mà trở thành những con người "không có cái đầu" để tiếp tục tin lời loài chó má csVN, hay "không có trái tim" để tiếp tục làm theo lời loài chó má csVN ?? .
***
Phim “Việt Nam! Việt Nam!” Được Công Bố Sau 37 Năm Bị Dấu Kín
***
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam ! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.
Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.
Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam ! Việt Nam !". Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khoá kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.
Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà Nội đối xữ tử tế.
- Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hoà khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hoá hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
- Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài Gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Gia Lợi nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau : ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi người Mỹ đang chiến đấu nữa'' (xem Đoạn 7). Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.
Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không ? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên ?
Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là “Liệu chúng ta có thể vẻ một lằn ranh giữa sinh mạng con người ? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần Kết Luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.
Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lở nói sa lầy rồi ... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ CS.
Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan "... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned".
Tạm dịch : "... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau".
Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật. "
Phim Tài Liệu 14/02/2009
http://teolangthang.blogspot.com/
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
11082010
______________
CSVN Cướp Nước, Diệt Chủng, Phản Quốc, Bán Nước
Diệt Cộng Cứu Nước
Monday, August 09, 2010
... "mới là chuyện lạ" !
Trích
Gần 40 năm sau …phục hồi danh dự
Craig Whitlock - DCVOnline lược dịch
Mùa hè 1972, quan chức ở Washington đã kéo tên tuổi của Đại tướng Không quân John D. Lavelle xuống bùn. Nhiều cuộc điều tra của Lầu Năm Góc và Quốc hội đã kết luận viên Tướng bốn ngôi sao đã ra lệnh ném bom trái phép ở Bắc Việt và sau đó đã cố che dấu sự thật. Ông bị giáng chức xuống hàng Thiếu tướng và buộc phải nghỉ hưu, trong ô nhục.
Tướng Lavelle, khẳng định tính chính trực của mình cho đến chết, nói rằng ông đã hành động theo lệnh. Gần bốn mươi năm sau, sự thật cho thấy ông đã đúng.
Hôm thứ Tư, sau khi một cuộc tái cứu xét thấu đáo các hành động của Lavelle, Tổng thống Obama đã yêu cầu Thượng viện phục hồi danh dự và sao của Đại tướng. Quyết định này đã chính thức viết lại sự thực ai đã nói láo suốt chương sử gây tranh nhiều cãi trong chiến tranh Việt Nam, ai là người nói sự thật và ai là người bị hàm oan.
Hồ sơ lịch sử do hai người viết tiểu sử tình cờ khai quật được chứng minh rằng Lavelle đã thực sự thi hành lệnh thượng cấp cho các phi vụ ném bom và lệnh của thượng cấp đến từ chính vị Tổng tư lệnh lúc đó: Tổng thống Richard M. Nixon.
Không những chỉ ra mật lệnh, theo tài liệu ghi lại cuộc hội thoại của ông ở Phòng Bầu dục cho thấy, mà Nixon còn lặng thinh, dù khó chịu, khi Lavelle phải chịu số phận của một vật tế thần.
“Tôi không muốn ông ta bị đem làm dê tế thần, khốn nạn thật,” Nixon nói với Cố vấn An ninh quốc gia của mình, Henry Kissinger, ngày 14 tháng Sáu năm 1972, vài ngày sau khi biết rằng Lavelle đã bị giáng chức vì bị cáo buộc đã ra lệnh thả bom trái phép. “Như vậy là tiêu tan sự nghiệp của người ta… Mình có thể làm bất cứ điều gì ngay bây giờ để ngăn chặn điều khốn nạn này không?”
Ngày 26 tháng Sáu, lương tâm của Nixon lại thức dậy trong một cuộc trò chuyện với Kissinger. “Thật tình, Henry, tôi cảm thấy cắn rứt khi chúng ta đẩy ông ta (Tướng Lavelle - DCVOnline) làm những điều này và sau đó lại đổ lỗi cho ông ấy,” Tổng thống Nixon nói. “Tôi không muốn hại một người vô tội.”
Nhưng Nixon đã không muốn công khai đứng lên bênh vực Tướng Lavelle. Lúc đó có nhiều nhà lập pháp và cử tri đã được thoải mái về cuộc chiến tranh, Nixon đã không dám thú nhận rằng chính ông là người đã bí mật cho phép leo thang ném bom ở Bắc Việt. Tại một cuộc họp báo ngày 29 tháng Sáu, ông được hỏi về trường hợp của Lavelle và các cuộc oanh kích.
“Những cuộc oanh kích đó không có phép,” Nixon nói với các phóng viên. “Cho ông ấy giải ngũ và về nghỉ hưu là đúng thôi.”
Trong lời khai và trong các cuộc phỏng vấn trước khi qua đời vào năm 1979, Lavelle nhận trách nhiệm về hậu quả quân sự của vụ đánh bom, mà ông nói hoàn toàn hợp lý để bảo vệ các phi vụ tuần tra và giám sát tại miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng ông không bao giờ vượt quá thẩm quyền của mình. Ông nói rằng ông đã làm đúng quy tắc giao chiến theo lệnh của Tham mưu trưởng Liên quân ở Washington cũng như của Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird và Tướng Creighton Abrams. (Không có bằng chứng nào cho thấy Tướng Lavelle biết rằng lệnh tấn công đã bắt nguồn từ TT Nixon.)
“Thật không thoải mái khi phải lặng nhìn một sự nghiệp quân sự lâu dài và xuất sắc kết thúc bằng một vết nhơ thảm khốc trong hồ sơ của tôi,” Lavelle nói với Quốc hội, “một vết nhơ vì tôi tận tình thi hành nhiệm vụ của mình.”
Cuộc chùi sạch vết nhơ bắt đầu từ năm 2007, khi Aloysius Casey, một Tướng Không quân đã hồi hưu, và con trai, Patrick Casey, viết một bài báo trong Tạp chí Không quân về vụ án. Trong khi nghiên cứu về tiểu sử của một Tướng Không quân khác, hai cha con Caseys tình cờ tìm được bản ghi âm cuộc hội thoại của Nixon cũng như những bản tin giải mật của Tham mưu trưởng liên quân. Những tài liệu đó, họ kết luận, cho thấy rằng Lavelle đã “có lệnh rõ ràng” từ Nixon và các quan chức quân sự cao cấp để tiến hành các cuộc không kích tại Bắc Việt vào cuối năm 1971 và đầu năm 1972.
Những khám phá này đã được trình bày với góa phụ của Lavelle, bà Mary Jo, nay đã 91 tuổi và đamg sống ở Marshall, bang Virginia, cũng bẩy người con của hai người. Gia đình Tướng Lavelle đã thuê Patrick Casey, một luật sư tại Pennsylvania, để giúp họ yêu cầu Không quân mở lại vụ án và trả lại danh vị Đại tướng của Lavelle.
Gia đình Lavelle đã gởi đơn đến Hội đồng Không quân để xin Tu sửa Hồ sơ Quân sự, trong đó xác nhận Tướng Lavelle đã được tha tội vào năm ngoái. Đó là một quyết định riêng của Bộ trưởng Không quân Michael B. Donley, và Bộ trưởng Quốc phòng Robert M. Gates. Vào ngày thứ Tư, Obama đã cùng hỗ trợ việc phục hồi danh dự cho Tướng Lavelle. Sự việc sẽ được đưa vào Thượng viện để được phê chuẩn.
“Jack là một người tốt, một người chồng tốt, một người cha tốt, và một sĩ quan tốt,” Mary Jo Lavelle nói trong một tuyên bố hôm thứ Tư. “Ước gì ông ấy còn sống để nghe tin này.”
Các quan chức của Không quân cho biết gia đình Lavelle không được hưởng lợi ích tài chính từ việc ông được vinh thăng lại sau khi đã chết. Mặc dù ông đã bị giáng cấp, quy định về nhân viên quân sự có hiệu lực lúc đó đã cho Lavelle nghỉ hưu với lương hưu trí toàn vẹn, Beth Gosselin, một phát ngôn viên Không quân, cho hay.
Thượng nghị sĩ James Webb (D-Va.), một cựu chiến binh Việt Nam đã vận động với Không quân nghe đơn kháng cáo của Lavelle, cho biết trường hợp này là một ví dụ về những thất vọng của cấp chỉ huy quân sự đã gặp phải trong quá trình chiến đấu tại Việt Nam, nghĩ rằng họ đã được những chỉ thị mâu thuẫn từ các nhà lập pháp và các quan chức dân sự.
“Chúng tôi vẫn còn rất nhiều điều để gỡ rối từ các cuộc tranh luận vào cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam,” Webb nói. “Nhưng sự việc này đã phục hồi danh dự cho Tướng Lavelle.”
Phụ chú của Mai Siêu Phong
Hoa Kỳ cũng có những Tổng Thống và bè phái lưu manh. Đáng lẽ Quốc Hội hồi đó phải đưa ông Nixon và bè lũ ra toà. Nhưng vì danh dự, và để bao che cho nhau nên họ đã để ông từ chức. Một nhục nhã của Hiệp Chủng Quốc.
Một bài học cho tất cả: kể cả một ông Đại tướng mà cũng bị đưa ra làm con dê tế thần để chạy tội. Không ngờ trong một thể chế tự do dân chủ nhất thế giới mà đã xẩy ra chuyện tầy trời như thế.
Hết trích
_________
conbenho nghĩ cũng chẳng có gì lạ .
Điều đáng lấy làm lạ là sau 35 năm dân VN mất nước vào tay tập đoàn chó má csVN vào Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975, với những sự việc bè lũ chó má csVN đã làm trên đất nước VN và "cho" dân tộc VN mà vẫn còn có những kẻ "sĩ" đặc, "sĩ" đờ "nghĩ", "nói", viết .. rằng lũ chó má csVN có thằng tốt ! .
Còn nữa, nếu có chuyện "không ngờ" mang ý nghĩa từ câu kết luận của bài viết trên, thì nên "không ngờ" có những tên "bình loạn gia" mang danh "trí thức", "kẻ sĩ" hải ngoại lúc nào cũng ca tụng, đội Mỹ lên đầu . Thật đáng tởm, đáng phỉ nhổ cho những kẻ mà tư tưởng vọng ngoại đã bị ăn ruồng vào huyết quản, vào cốt tủy của họ.
Học hỏi cái hay từ nền văn minh xứ người để tiến bộ KHÔNG có nghĩa là phải đội ngoại bang lên đầu . Những kẻ đội ngoại bang lên đầu dù có kiến thức đầy bồ, tinh thông thiên văn địa lý cũng chỉ là những con chó ghẻ chuyên làm tay sai ngoại bang, không ích gì cho quê hương, nòi giống.
Đất nước ta càng có nhiều loại "sĩ" đờ, "sĩ" mờ này mà không mất nước vào tay ngoại bang, vào tay loài nội tặc chó má bán nước buôn dân csVN "mới là chuyện lạ " !
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
10082010
________________
Tập đòan chó má csVN Cướp Nước, Diệt Chủng, Phản Quốc, Bán Nước .
Diệt cộng Cứu Nước
Gần 40 năm sau …phục hồi danh dự
Craig Whitlock - DCVOnline lược dịch
Mùa hè 1972, quan chức ở Washington đã kéo tên tuổi của Đại tướng Không quân John D. Lavelle xuống bùn. Nhiều cuộc điều tra của Lầu Năm Góc và Quốc hội đã kết luận viên Tướng bốn ngôi sao đã ra lệnh ném bom trái phép ở Bắc Việt và sau đó đã cố che dấu sự thật. Ông bị giáng chức xuống hàng Thiếu tướng và buộc phải nghỉ hưu, trong ô nhục.
Tướng Lavelle, khẳng định tính chính trực của mình cho đến chết, nói rằng ông đã hành động theo lệnh. Gần bốn mươi năm sau, sự thật cho thấy ông đã đúng.
Hôm thứ Tư, sau khi một cuộc tái cứu xét thấu đáo các hành động của Lavelle, Tổng thống Obama đã yêu cầu Thượng viện phục hồi danh dự và sao của Đại tướng. Quyết định này đã chính thức viết lại sự thực ai đã nói láo suốt chương sử gây tranh nhiều cãi trong chiến tranh Việt Nam, ai là người nói sự thật và ai là người bị hàm oan.
Hồ sơ lịch sử do hai người viết tiểu sử tình cờ khai quật được chứng minh rằng Lavelle đã thực sự thi hành lệnh thượng cấp cho các phi vụ ném bom và lệnh của thượng cấp đến từ chính vị Tổng tư lệnh lúc đó: Tổng thống Richard M. Nixon.
Không những chỉ ra mật lệnh, theo tài liệu ghi lại cuộc hội thoại của ông ở Phòng Bầu dục cho thấy, mà Nixon còn lặng thinh, dù khó chịu, khi Lavelle phải chịu số phận của một vật tế thần.
“Tôi không muốn ông ta bị đem làm dê tế thần, khốn nạn thật,” Nixon nói với Cố vấn An ninh quốc gia của mình, Henry Kissinger, ngày 14 tháng Sáu năm 1972, vài ngày sau khi biết rằng Lavelle đã bị giáng chức vì bị cáo buộc đã ra lệnh thả bom trái phép. “Như vậy là tiêu tan sự nghiệp của người ta… Mình có thể làm bất cứ điều gì ngay bây giờ để ngăn chặn điều khốn nạn này không?”
Ngày 26 tháng Sáu, lương tâm của Nixon lại thức dậy trong một cuộc trò chuyện với Kissinger. “Thật tình, Henry, tôi cảm thấy cắn rứt khi chúng ta đẩy ông ta (Tướng Lavelle - DCVOnline) làm những điều này và sau đó lại đổ lỗi cho ông ấy,” Tổng thống Nixon nói. “Tôi không muốn hại một người vô tội.”
Nhưng Nixon đã không muốn công khai đứng lên bênh vực Tướng Lavelle. Lúc đó có nhiều nhà lập pháp và cử tri đã được thoải mái về cuộc chiến tranh, Nixon đã không dám thú nhận rằng chính ông là người đã bí mật cho phép leo thang ném bom ở Bắc Việt. Tại một cuộc họp báo ngày 29 tháng Sáu, ông được hỏi về trường hợp của Lavelle và các cuộc oanh kích.
“Những cuộc oanh kích đó không có phép,” Nixon nói với các phóng viên. “Cho ông ấy giải ngũ và về nghỉ hưu là đúng thôi.”
Trong lời khai và trong các cuộc phỏng vấn trước khi qua đời vào năm 1979, Lavelle nhận trách nhiệm về hậu quả quân sự của vụ đánh bom, mà ông nói hoàn toàn hợp lý để bảo vệ các phi vụ tuần tra và giám sát tại miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng ông không bao giờ vượt quá thẩm quyền của mình. Ông nói rằng ông đã làm đúng quy tắc giao chiến theo lệnh của Tham mưu trưởng Liên quân ở Washington cũng như của Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird và Tướng Creighton Abrams. (Không có bằng chứng nào cho thấy Tướng Lavelle biết rằng lệnh tấn công đã bắt nguồn từ TT Nixon.)
“Thật không thoải mái khi phải lặng nhìn một sự nghiệp quân sự lâu dài và xuất sắc kết thúc bằng một vết nhơ thảm khốc trong hồ sơ của tôi,” Lavelle nói với Quốc hội, “một vết nhơ vì tôi tận tình thi hành nhiệm vụ của mình.”
Cuộc chùi sạch vết nhơ bắt đầu từ năm 2007, khi Aloysius Casey, một Tướng Không quân đã hồi hưu, và con trai, Patrick Casey, viết một bài báo trong Tạp chí Không quân về vụ án. Trong khi nghiên cứu về tiểu sử của một Tướng Không quân khác, hai cha con Caseys tình cờ tìm được bản ghi âm cuộc hội thoại của Nixon cũng như những bản tin giải mật của Tham mưu trưởng liên quân. Những tài liệu đó, họ kết luận, cho thấy rằng Lavelle đã “có lệnh rõ ràng” từ Nixon và các quan chức quân sự cao cấp để tiến hành các cuộc không kích tại Bắc Việt vào cuối năm 1971 và đầu năm 1972.
Những khám phá này đã được trình bày với góa phụ của Lavelle, bà Mary Jo, nay đã 91 tuổi và đamg sống ở Marshall, bang Virginia, cũng bẩy người con của hai người. Gia đình Tướng Lavelle đã thuê Patrick Casey, một luật sư tại Pennsylvania, để giúp họ yêu cầu Không quân mở lại vụ án và trả lại danh vị Đại tướng của Lavelle.
Gia đình Lavelle đã gởi đơn đến Hội đồng Không quân để xin Tu sửa Hồ sơ Quân sự, trong đó xác nhận Tướng Lavelle đã được tha tội vào năm ngoái. Đó là một quyết định riêng của Bộ trưởng Không quân Michael B. Donley, và Bộ trưởng Quốc phòng Robert M. Gates. Vào ngày thứ Tư, Obama đã cùng hỗ trợ việc phục hồi danh dự cho Tướng Lavelle. Sự việc sẽ được đưa vào Thượng viện để được phê chuẩn.
“Jack là một người tốt, một người chồng tốt, một người cha tốt, và một sĩ quan tốt,” Mary Jo Lavelle nói trong một tuyên bố hôm thứ Tư. “Ước gì ông ấy còn sống để nghe tin này.”
Các quan chức của Không quân cho biết gia đình Lavelle không được hưởng lợi ích tài chính từ việc ông được vinh thăng lại sau khi đã chết. Mặc dù ông đã bị giáng cấp, quy định về nhân viên quân sự có hiệu lực lúc đó đã cho Lavelle nghỉ hưu với lương hưu trí toàn vẹn, Beth Gosselin, một phát ngôn viên Không quân, cho hay.
Thượng nghị sĩ James Webb (D-Va.), một cựu chiến binh Việt Nam đã vận động với Không quân nghe đơn kháng cáo của Lavelle, cho biết trường hợp này là một ví dụ về những thất vọng của cấp chỉ huy quân sự đã gặp phải trong quá trình chiến đấu tại Việt Nam, nghĩ rằng họ đã được những chỉ thị mâu thuẫn từ các nhà lập pháp và các quan chức dân sự.
“Chúng tôi vẫn còn rất nhiều điều để gỡ rối từ các cuộc tranh luận vào cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam,” Webb nói. “Nhưng sự việc này đã phục hồi danh dự cho Tướng Lavelle.”
Phụ chú của Mai Siêu Phong
Hoa Kỳ cũng có những Tổng Thống và bè phái lưu manh. Đáng lẽ Quốc Hội hồi đó phải đưa ông Nixon và bè lũ ra toà. Nhưng vì danh dự, và để bao che cho nhau nên họ đã để ông từ chức. Một nhục nhã của Hiệp Chủng Quốc.
Một bài học cho tất cả: kể cả một ông Đại tướng mà cũng bị đưa ra làm con dê tế thần để chạy tội. Không ngờ trong một thể chế tự do dân chủ nhất thế giới mà đã xẩy ra chuyện tầy trời như thế.
Hết trích
_________
conbenho nghĩ cũng chẳng có gì lạ .
Điều đáng lấy làm lạ là sau 35 năm dân VN mất nước vào tay tập đoàn chó má csVN vào Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975, với những sự việc bè lũ chó má csVN đã làm trên đất nước VN và "cho" dân tộc VN mà vẫn còn có những kẻ "sĩ" đặc, "sĩ" đờ "nghĩ", "nói", viết .. rằng lũ chó má csVN có thằng tốt ! .
Còn nữa, nếu có chuyện "không ngờ" mang ý nghĩa từ câu kết luận của bài viết trên, thì nên "không ngờ" có những tên "bình loạn gia" mang danh "trí thức", "kẻ sĩ" hải ngoại lúc nào cũng ca tụng, đội Mỹ lên đầu . Thật đáng tởm, đáng phỉ nhổ cho những kẻ mà tư tưởng vọng ngoại đã bị ăn ruồng vào huyết quản, vào cốt tủy của họ.
Học hỏi cái hay từ nền văn minh xứ người để tiến bộ KHÔNG có nghĩa là phải đội ngoại bang lên đầu . Những kẻ đội ngoại bang lên đầu dù có kiến thức đầy bồ, tinh thông thiên văn địa lý cũng chỉ là những con chó ghẻ chuyên làm tay sai ngoại bang, không ích gì cho quê hương, nòi giống.
Đất nước ta càng có nhiều loại "sĩ" đờ, "sĩ" mờ này mà không mất nước vào tay ngoại bang, vào tay loài nội tặc chó má bán nước buôn dân csVN "mới là chuyện lạ " !
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
10082010
________________
Tập đòan chó má csVN Cướp Nước, Diệt Chủng, Phản Quốc, Bán Nước .
Diệt cộng Cứu Nước
Tuesday, August 03, 2010
Chuyện nước tôi (tiếp theo)- Những con chó ghẻ hải ngoại tiếp tục liếm sạch những gì bè lũ chó má csVN đã nhổ ra
Trích
‘ONE VIETNAM’ - MỘT ÂM MƯU KIỀU VẬN MỚI TẠI HẢI NGOẠI * One VietNam là một Website được sáng lập bởi 2 cô Uyên Nguyễn, tốt nghiệp ngành Kinh Tế tại Đại Học Berkeley và cô Isabelle Lại, tốt nghiệp tại Đại Học Harvard. Mục đích, chủ trương của One VietNam là kết nối cộng đồng VN trong nước và hải ngoại để bảo tồn nền văn hóa VN, thông tin và học hỏi lẫn nhau, đối thoại với nhau, và điều quan trọng nhất là giúp đỡ các tổ chức phi chính phủ rất cần sự hỗ trợ của Cộng đồng hải ngoại.
Cô Uyên Nguyễn cũng nhấn mạnh: “One VietNam tập trung vào lĩnh vực nhân đạo và tổ chức đỡ đầu của chúng tôi là tổ chức Đông Tây Hội Ngộ, một trong những tổ chức từ thiện lớn nhất đang hoạt động tại VietNam.”
Cô Isabelle Lại khẳng định: “Chúng tôi không đề cập tới vấn đề chính trị hay sự cay đắng của quá khứ. Chúng tôi muốn xây dựng một tương lai mà tất cả mọi người cùng tự hào rằng mình là người Việt Nam….”.
Cái mục tiêu “đội đá vá trời” này của hai cô cử nhân tại Hoa Kỳ, nhắc nhở mọi người tới chủ trương: “Bắc một nhịp cầu, xóa hố sâu ngăn cách” của Hà Nội. Chủ trương “Hòa hợp hòa giải”, quên đi quá khứ đau thương để cùng xây dựng đất nước, mà CS VN vẫn đẩy mạnh, nhưng không thành công, từ bấy lâu nay.
Theo như lời giới thiệu của đài VOA, mặc dầu cho tới ngày 19/7, One VietNam mới bắt đầu mở cho cả thế giới, mà mới hôm nay (4/7), đã có 6,000 người vào trang facebook kết nối? Chưa ra mắt mà đã có chừng đó người xem, thì thật là phi thường! Không hiểu hai cô Uyên và Lại đã xuất hiện trên đó ra sao mà hấp dẫn thế. Cái chiêu bài “Hòa hợp hòa giải”, được tung ra hải ngoại dưới bảng hiệu: “One Vietnam”, sẽ đi về đâu ?.
Người ta chỉ có thể liên kết với nhau, hợp tác với nhau khi cùng nhìn về một hướng, cùng có một lý tưởng, một lập trường, một nguyện vọng. Hai cô có tham vọng kết hợp một khối nhân sự khổng lồ với mục đích quyên góp tài chính hỗ trợ cho “Đông Tây Hội Ngộ” của Lê Lý Hayslip thì tham vọng này muôn đời cũng chỉ là…. giấc mơ không thành mà thôi! Bà me Mỹ này đã xuất hiện ồn ào thời VC mới rục rịch đổi mới đã phải mau chóng tháo chạy vào âm thầm, bây giờ lại được hai cô lôi ra để mà dưạ vào chắc khó làm nên cơm cháo. Hội từ thiện “ Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West)” của Hayslip Lệ Lý có mục đích quyên tiền hải ngoại đem về giúp cho VN, không thể nào có sức mạnh bằng cô gái lọ lem Huỳnh thị Mận tức Huỳnh Tiểu Hương cách đây vài năm được. Bởi lẽ cô Mận được các quan chức lớn VC bắt tay ôm ấp và đại sứ Mỹ ở Hà nội bảo trợ cho qua Mỹ hoạt động, và một số tổ chức / cá nhân thời cơ toa rập giúp đỡ. Bà Lê Lý chỉ có cái tên Mỹ Hayslip trần xì. Muốn vớt vát thì tối thiểu cũng phải đưa những hình bà Hayslip ra tương tự như hình Thị Mận hồi nọ.
Ngoài ra, trong thời gian qua những chương trình từ thiện, quyên góp tiền bạc cho VN đã bớt ăn khách vì những tại tiếng và những lạm dụng. Chuyện Tim Aline sang Mỹ quyên tiền của người tỵ nạn, mà không chịu chào cờ vàng. Tới bất cứ nơi đâu, Tim cũng đòi bằng được phải “hạ cờ vàng xuống” để cô đi thâu tiền. Cái thái độ “ngang ngược” này đã làm thức tỉnh Cộng đồng. Sau vụ này, ngôi sao Tim Aline “tắt lịm ” trên bầu trời từ thiện.
Sau đó là chuyện một nhà từ thiện lớn ở San Jose, đã tổ chức những bữa tiệc gây qũy để mang tiền về VN giúp các thương phế binh VNCH. Trong bữa tiệc, anh ta lên sân khấu “ca cẩm” về nỗi thống khổ của các thương phế binh tại VN, và xin mỗi người một tay, cùng góp sức hàn gắn vết thương đau của chiến tranh. Ai mà cầm lòng cho được khi nghe những câu chuyện “rớt nước mắt”, nhất là đang ngồi trước những món “sơn hào hải vị”. Thế rồi, khi về VN, anh ta không đưa tiền cho thương phế binh VNCH, mà lại đua tiền cho sở Thương Binh Xã Hội của CS để họ tùy nghi sử dụng. Hình ảnh anh ta và cô phụ tá được CS trao bằng khen tặng đã được đưa lên mạng điện tử. Và từ đó, SJ vắng bóng những bữa tiệc gây qũy nổi đình nổi đám của nhà từ thiện này.
Con số các hội từ thiện cho VN ở hải ngoại không phải là nhỏ. Tính ra ngót nghét cũng gần cả ngàn hội. Từ những hội có tính cách quốc tế như hội “Chữ Thập Đỏ”, các hội của chùa và nhà thờ, còn có những hội tư nhân. Cũng có trường hợp chỉ có một vài người với một tấm lòng vàng, âm thầm quyên góp tiền bạc của thân nhân hay bạn bè thân thiết tín cẩn. Tiền giao tận tay những người cần giúp đỡ, tuy rằng là số nhỏ. và chẳng ồn ào kêu gọi gì cả, nhưng mà cụ thể và thực tế không dính gì với VC.
One Vietnam, một Website được sự giới thiệu của 2 đài “ngoại” VOA và BBC từ trước khi chính thức ra mắt, có vẻ như được một sức “chống lưng” khá mạnh. Hai cô gái tốt nghiệp Harvard và Berkeley và chủ trương nối kết các cộng đồng hải ngoại với trong nước qua hoạt động từ thiện có vẻ to lớn và tốt đẹp, khi mới nghe qua. Với cái hội từ thiện Đông Tây Hội Ngộ của Hayslip và cái hướng hoạt động xin tiền như là hội phi chính phủ thì may mắn lắm các cô sẽ có một hội đuợc funds từ các cơ quan ngoại quốc, để các cô đi họp không làm chính trị.
Các cộng đồng Việt nam hải ngoại không cần các cô, từ gần 40 năm qua đã là MỘT Cộng đồng chính trị, và đã nối kết với nhau trong các sinh hoạt văn hoá cũng như trên lập trường đánh đuổi những kẻ lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN không những đầy tội ác quá khứ mà còn tiếp tục những hành động bán nước hại dân hiện tại.
Giao Tiên
22.7.2010
Hết trích
________________
Cũng không gì lạ .
Bè lũ chó má csVN là một lũ nhổ ra liếm vào, là một lũ vô lọai đáng ghê tởm .
Tuy nhiên vẫn có cái lũ chó ghẻ đáng tởm hơn lũ chó má csVN, lũ này có lẽ ăn quá nhiều "bơ thừa, sửa cặn" và hấp thụ nền văn minh của "côn đồ, đĩ điếm" phương tây nên đã biến thái từ người học đòi "THÚ TUỘT", mất cả tính người, tự nguyện liếm sạch những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra . Thật đáng phỉ nhổ .
Còn nữa, mỗi ngày thêm một việc, tuy không lạ nhưng cũng là điều mà những người VN Tỵ Nạn cộng sản vẫn phải lưu ý, để nhận ra những khuôn mặt trong giới truyền thông hải ngoại qua những chương trình phát thanh của họ, để thấy rõ trong CDNV hải ngọai không ít những kẻ có thừa "Can đảm" TUỘT .
conbenho hôm nay, ghé vào một diễn đàn "đấu tranh" chống cộng Paltalk, vào lúc một người Op của diễn đàn đó phát lại audio chương trình của một đài phát thanh hải ngọai, phát lại bài "phỏng vấn" hay "hội luận" gì đó với một trong những thằng giặc già trong cái đảng chó má csVN . conbenho nghe một đọan trong đó người điều khiển chương trình đã nói "bác lê hồng hà muôn năm" (sic ) !!! Thật là đáng tởm . (*)
Chỉ có những con chó ghẻ mới "muôn năm" những con chó má csVN và tình nguyện liếm cho sạch những gì mà lũ chó má csVN đã nhổ ra .
Và những kẻ phát đi phát lại những lọai chương trình này, không biết có ý thức được rằng chính họ đã cổ võ cho những con chó ghẻ hải ngoại "thi đua" liếm cho sạch sẽ những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra hay không ?? .
(*) một trong những tên giặc già trong cái đảng chó má csVN, gần xuống lỗ vẫn còn tôn thờ tên quốc tặc hồ chí minh .
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị đã ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
04082010
_____________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
‘ONE VIETNAM’ - MỘT ÂM MƯU KIỀU VẬN MỚI TẠI HẢI NGOẠI * One VietNam là một Website được sáng lập bởi 2 cô Uyên Nguyễn, tốt nghiệp ngành Kinh Tế tại Đại Học Berkeley và cô Isabelle Lại, tốt nghiệp tại Đại Học Harvard. Mục đích, chủ trương của One VietNam là kết nối cộng đồng VN trong nước và hải ngoại để bảo tồn nền văn hóa VN, thông tin và học hỏi lẫn nhau, đối thoại với nhau, và điều quan trọng nhất là giúp đỡ các tổ chức phi chính phủ rất cần sự hỗ trợ của Cộng đồng hải ngoại.
Cô Uyên Nguyễn cũng nhấn mạnh: “One VietNam tập trung vào lĩnh vực nhân đạo và tổ chức đỡ đầu của chúng tôi là tổ chức Đông Tây Hội Ngộ, một trong những tổ chức từ thiện lớn nhất đang hoạt động tại VietNam.”
Cô Isabelle Lại khẳng định: “Chúng tôi không đề cập tới vấn đề chính trị hay sự cay đắng của quá khứ. Chúng tôi muốn xây dựng một tương lai mà tất cả mọi người cùng tự hào rằng mình là người Việt Nam….”.
Cái mục tiêu “đội đá vá trời” này của hai cô cử nhân tại Hoa Kỳ, nhắc nhở mọi người tới chủ trương: “Bắc một nhịp cầu, xóa hố sâu ngăn cách” của Hà Nội. Chủ trương “Hòa hợp hòa giải”, quên đi quá khứ đau thương để cùng xây dựng đất nước, mà CS VN vẫn đẩy mạnh, nhưng không thành công, từ bấy lâu nay.
Theo như lời giới thiệu của đài VOA, mặc dầu cho tới ngày 19/7, One VietNam mới bắt đầu mở cho cả thế giới, mà mới hôm nay (4/7), đã có 6,000 người vào trang facebook kết nối? Chưa ra mắt mà đã có chừng đó người xem, thì thật là phi thường! Không hiểu hai cô Uyên và Lại đã xuất hiện trên đó ra sao mà hấp dẫn thế. Cái chiêu bài “Hòa hợp hòa giải”, được tung ra hải ngoại dưới bảng hiệu: “One Vietnam”, sẽ đi về đâu ?.
Người ta chỉ có thể liên kết với nhau, hợp tác với nhau khi cùng nhìn về một hướng, cùng có một lý tưởng, một lập trường, một nguyện vọng. Hai cô có tham vọng kết hợp một khối nhân sự khổng lồ với mục đích quyên góp tài chính hỗ trợ cho “Đông Tây Hội Ngộ” của Lê Lý Hayslip thì tham vọng này muôn đời cũng chỉ là…. giấc mơ không thành mà thôi! Bà me Mỹ này đã xuất hiện ồn ào thời VC mới rục rịch đổi mới đã phải mau chóng tháo chạy vào âm thầm, bây giờ lại được hai cô lôi ra để mà dưạ vào chắc khó làm nên cơm cháo. Hội từ thiện “ Đông Tây Hội Ngộ (East Meets West)” của Hayslip Lệ Lý có mục đích quyên tiền hải ngoại đem về giúp cho VN, không thể nào có sức mạnh bằng cô gái lọ lem Huỳnh thị Mận tức Huỳnh Tiểu Hương cách đây vài năm được. Bởi lẽ cô Mận được các quan chức lớn VC bắt tay ôm ấp và đại sứ Mỹ ở Hà nội bảo trợ cho qua Mỹ hoạt động, và một số tổ chức / cá nhân thời cơ toa rập giúp đỡ. Bà Lê Lý chỉ có cái tên Mỹ Hayslip trần xì. Muốn vớt vát thì tối thiểu cũng phải đưa những hình bà Hayslip ra tương tự như hình Thị Mận hồi nọ.
Ngoài ra, trong thời gian qua những chương trình từ thiện, quyên góp tiền bạc cho VN đã bớt ăn khách vì những tại tiếng và những lạm dụng. Chuyện Tim Aline sang Mỹ quyên tiền của người tỵ nạn, mà không chịu chào cờ vàng. Tới bất cứ nơi đâu, Tim cũng đòi bằng được phải “hạ cờ vàng xuống” để cô đi thâu tiền. Cái thái độ “ngang ngược” này đã làm thức tỉnh Cộng đồng. Sau vụ này, ngôi sao Tim Aline “tắt lịm ” trên bầu trời từ thiện.
Sau đó là chuyện một nhà từ thiện lớn ở San Jose, đã tổ chức những bữa tiệc gây qũy để mang tiền về VN giúp các thương phế binh VNCH. Trong bữa tiệc, anh ta lên sân khấu “ca cẩm” về nỗi thống khổ của các thương phế binh tại VN, và xin mỗi người một tay, cùng góp sức hàn gắn vết thương đau của chiến tranh. Ai mà cầm lòng cho được khi nghe những câu chuyện “rớt nước mắt”, nhất là đang ngồi trước những món “sơn hào hải vị”. Thế rồi, khi về VN, anh ta không đưa tiền cho thương phế binh VNCH, mà lại đua tiền cho sở Thương Binh Xã Hội của CS để họ tùy nghi sử dụng. Hình ảnh anh ta và cô phụ tá được CS trao bằng khen tặng đã được đưa lên mạng điện tử. Và từ đó, SJ vắng bóng những bữa tiệc gây qũy nổi đình nổi đám của nhà từ thiện này.
Con số các hội từ thiện cho VN ở hải ngoại không phải là nhỏ. Tính ra ngót nghét cũng gần cả ngàn hội. Từ những hội có tính cách quốc tế như hội “Chữ Thập Đỏ”, các hội của chùa và nhà thờ, còn có những hội tư nhân. Cũng có trường hợp chỉ có một vài người với một tấm lòng vàng, âm thầm quyên góp tiền bạc của thân nhân hay bạn bè thân thiết tín cẩn. Tiền giao tận tay những người cần giúp đỡ, tuy rằng là số nhỏ. và chẳng ồn ào kêu gọi gì cả, nhưng mà cụ thể và thực tế không dính gì với VC.
One Vietnam, một Website được sự giới thiệu của 2 đài “ngoại” VOA và BBC từ trước khi chính thức ra mắt, có vẻ như được một sức “chống lưng” khá mạnh. Hai cô gái tốt nghiệp Harvard và Berkeley và chủ trương nối kết các cộng đồng hải ngoại với trong nước qua hoạt động từ thiện có vẻ to lớn và tốt đẹp, khi mới nghe qua. Với cái hội từ thiện Đông Tây Hội Ngộ của Hayslip và cái hướng hoạt động xin tiền như là hội phi chính phủ thì may mắn lắm các cô sẽ có một hội đuợc funds từ các cơ quan ngoại quốc, để các cô đi họp không làm chính trị.
Các cộng đồng Việt nam hải ngoại không cần các cô, từ gần 40 năm qua đã là MỘT Cộng đồng chính trị, và đã nối kết với nhau trong các sinh hoạt văn hoá cũng như trên lập trường đánh đuổi những kẻ lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN không những đầy tội ác quá khứ mà còn tiếp tục những hành động bán nước hại dân hiện tại.
Giao Tiên
22.7.2010
Hết trích
________________
Cũng không gì lạ .
Bè lũ chó má csVN là một lũ nhổ ra liếm vào, là một lũ vô lọai đáng ghê tởm .
Tuy nhiên vẫn có cái lũ chó ghẻ đáng tởm hơn lũ chó má csVN, lũ này có lẽ ăn quá nhiều "bơ thừa, sửa cặn" và hấp thụ nền văn minh của "côn đồ, đĩ điếm" phương tây nên đã biến thái từ người học đòi "THÚ TUỘT", mất cả tính người, tự nguyện liếm sạch những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra . Thật đáng phỉ nhổ .
Còn nữa, mỗi ngày thêm một việc, tuy không lạ nhưng cũng là điều mà những người VN Tỵ Nạn cộng sản vẫn phải lưu ý, để nhận ra những khuôn mặt trong giới truyền thông hải ngoại qua những chương trình phát thanh của họ, để thấy rõ trong CDNV hải ngọai không ít những kẻ có thừa "Can đảm" TUỘT .
conbenho hôm nay, ghé vào một diễn đàn "đấu tranh" chống cộng Paltalk, vào lúc một người Op của diễn đàn đó phát lại audio chương trình của một đài phát thanh hải ngọai, phát lại bài "phỏng vấn" hay "hội luận" gì đó với một trong những thằng giặc già trong cái đảng chó má csVN . conbenho nghe một đọan trong đó người điều khiển chương trình đã nói "bác lê hồng hà muôn năm" (sic ) !!! Thật là đáng tởm . (*)
Chỉ có những con chó ghẻ mới "muôn năm" những con chó má csVN và tình nguyện liếm cho sạch những gì mà lũ chó má csVN đã nhổ ra .
Và những kẻ phát đi phát lại những lọai chương trình này, không biết có ý thức được rằng chính họ đã cổ võ cho những con chó ghẻ hải ngoại "thi đua" liếm cho sạch sẽ những gì mà bè lũ chó má csVN đã nhổ ra hay không ?? .
(*) một trong những tên giặc già trong cái đảng chó má csVN, gần xuống lỗ vẫn còn tôn thờ tên quốc tặc hồ chí minh .
***
Chân thành cám ơn Quý Anh Chị đã ghé thăm "conbenho Nguyễn Hoài Trang Blog"
Xin được lắng nghe ý kiến chia sẻ của Quý Anh Chị trực tiếp tại Diễn Đàn Paltalk: 1Latdo Tapdoan Vietgian CSVN Phanquoc Bannuoc .
Kính chúc Sức Khỏe Quý Anh Chị .
conbenho
Tiểu Muội quantu
Nguyễn Hoài Trang
04082010
_____________
Đừng nghe những gì bè lũ chó má csVN nói, hãy nhìn kỹ những gì bè lũ chó má csVN làm .
Subscribe to:
Posts (Atom)
